Áp suất khí quyển là áp suất của khí quyển Trái Đất tác dụng lên mọi vật ở bên trong nó và lên trên bề mặt Trái Đất. Càng lên cao, áp suất khí quyển tác dụng vào vật càng giảm. Áp suất khí quyển tại các địa điểm khác nhau thì khác nhau. Áp suất tại cùng một địa điểm vào các thời điểm khác nhau thì khác nhau.[1] Áp suất khí quyển thường được đo bằng đơn vị át-mốt-phe, kí hiệu là atm: 1 atm = 101325 Pa[2][3], đây cũng chính là áp suất khí quyển tại mặt nước biển. Một đơn vị khác để đo áp suất khí quyển là milimet thủy ngân mmHg hay gọi là Torr (1 Torr = 133,3 Pa = 1 mmHg , 760 mmHg= 1 atm). Các đơn vị sau là tương đương, nhưng chỉ viết số thập phân: 760 mmHg (Torr), 29,92 inHg, 14,696 psi, 1013,25 millibars. 1 đơn vị áp suất khí quyển tiêu chuẩn là áp suất tiêu chuẩn cho động cơ điện khí nén (ISO R554), trong hàng không không gian (ISO 2533) và trong công nghiệp dầu mỏ (ISO 5024).
[sửa]Lịch sử
Năm 1654, Ghê-ric (Otto von Guericke), thị trưởng thành phố Mác-đơ-buốc (Magdeburg) của Đức đã dùng hai bán cầu bằng đồng rỗng, đường kính khoảng 30cm, mép được mài nhẵn và úp chặt vào nhau sao cho vừa khít. Sau đó ông dùng máy bơm rút không khí bên trong quả cầu ra ngoài qua một van gắn vào một bán cầu rồi đóng khoá van lại. Người ta phải dùng hai đàn ngựa mỗi đàn tám con nhưng vẫn không kéo dược hai bán cầu rời ra.
Nhà bác học Torricelli đã dùng một ống thủy tinh dài 1m một đầu bịt kín rồi đổ thuỷ ngân vào ống. Sau đó ông dùng tay bịt kín đầu còn lại và nhúng vào một chậu đựng thuỷ ngân. Ông nhận thấy thuỷ ngân trong ống tụt xuống, còn lại khoảng 76cm tính từ mặt thoáng thuỷ ngân trong chậu.
vd hút hết không khí trong hộp sữa thì áp suất bên ngoài thắng áp suất bên trong gây hộp bị biến dạng
CHÚC CẬU HỌC GIỎI NHẤT LÀ MÔN VẬT LÍ