Chào mừng bạn đến với Selfomy Hỏi Đáp, hãy Hỏi bài tập hoặc Tham gia ngay
+1 thích
1.6k lượt xem
anhthh_823 trong Ngữ văn lớp 11 bởi Tiến sĩ (15.4k điểm)
Tí Vua Đệ Nhất bởi Tiến sĩ (28.1k điểm)
Tick mình nha

+1 cho bạn nà!

2 Trả lời

0 phiếu
nhthuyvy16 bởi Tiến sĩ (16.5k điểm)
 
Hay nhất

Thân phận éo le của người phụ nữ trong xã hội phong kiến là một đề tài khá phổ biến trong văn học dân gian và văn học viết thời hiện đại. Nhắc đến số phận đau thương ấy của người đàn bà, chắc hẳn ai cũng nhớ tới bài thơ “Tự tình II” của “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương và “Thương vợ” của Trần Tế Xương. Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ tài ba ở nước ta vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX qua các tác phẩm thể hiện sâu sắc thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, với bao khao khát sống và hạnh phúc tình duyên. Nổi bật trong số đó là chùm thơ “Tự tình” gồm ba bài phản ánh tâm tư tình cảm của Xuân Hương, một người phụ nữ quá lứa lỡ thì, duyên phận hẩm hiu,... Chính bài thơ “Tự tình” (II) đã khắc họa rõ nét hơn về tiếng than thân trách phận cho nỗi buồn cô đơn, về bi kịch tình yêu, niềm khao khát hạnh phúc của một kiếp hồng nhan. Trần Tế Xương – nhà thơ trào phúng nổi tiếng của nền thơ ca nước nhà thì ngược lại. Ông là một nhà thơ tài năng, hoạt động dưới bút danh Tú Xương. Thơ của ông có tính trào phúng, châm biếm những lại được nhiều người yêu thích vì đậm chất trữ tình. Ông luôn trân trọng, ca ngợi người vợ hiền của mình là bà Tú, điều đó được thể hiện qua mười tác phẩm về bà. Nổi bật trong số đó chính là thi phẩm tuyệt bút “Thương vợ” khắc họa lên hình ảnh người vợ với đầy vất vả bằng ngòi bút chân thực, giản dị, chứa đựng trong ý thơ là sự cảm thông sâu sắc, sự trách móc chính bản thân mình của nhà thơ. Cả hai bài thơ đều chất chứa những phẩm chất cao đẹp cũng như thân phận nhỏ nhoi của người phụ nữ:

 

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân máy, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!”

(Tự tình II – Hồ Xuân Hương)

 

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.”

(Thương vợ - Trần Tế Xương)

 

Dẫn vào bài thơ “Tự tình” là một khung cảnh tối tăm, lạnh lẽo của màn đêm hiện ra trước mắt người đọc. Trên cái nền không gian u tối ấy, hình ảnh người phụ nữ hiện lên thật hiu quạnh làm sao:

 

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.”

 

Hai trong ba bài thơ, nữ sĩ đều nói về đêm khuya, cảnh khuya. Một lần nữa, bà lại tỉnh dậy lúc canh khuya, thao thức suốt đêm dài, tâm trạng ngổn ngang phiền muộn. Thời gian “đêm khuya” đầy yên tĩnh, chỉ có bản thân đối mặt với chính mình là khoảng thời gian buồn bã và cô đơn nhất, nó khiến con người ta dễ bộc lộ cảm xúc, suy tư về cuộc đời, về số phận. Tác giả đã khéo léo sử dụng liên tiếp từ láy “văng vẳng” kết hợp cùng động từ “dồn” để thể hiện sự dồn dập như thúc giục của thời gian trôi qua nhanh, nó không làm cho không gian nơi đây thêm phần huyên náo mà chỉ càng nhấn mạnh sự tĩnh mịch của đêm tối mà thôi.

 

Chính khoảnh khắc ấy khiến nhà thơ tự soi vào mình, cảm nhận được mình chỉ như “cái hồng nhan” nhỏ bé giữa nền “nước non” bao la. Từ “cái” gắn liền với chữ “hồng nhan” làm cho giọng thơ trĩu nặng xuống, đầy bi thương. Người phụ nữ ấy đã có một thời son trẻ tự hào với: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”, có phẩm hạnh tốt đẹp ví như: “tấm lòng son” trọn vẹn, thế mà nay chỉ còn đọng lại chút thân phận nhỏ nhoi, không được tôn trọng. Bấy nhiêu vẫn chưa đủ bẽ bàng, “cái hồng nhan” ấy còn đi cùng với động từ “trơ” nghe đầy cay đắng. “Trơ” phải chăng nói lên sự trơ trọi, cô đơn hay là sự trơ lì, chai sạn với cuộc đời của người phụ nữ ở tuổi tứ tuần? Dẫu sao chăng nữa, nó cũng góp phần đẩy nỗi đau của Xuân Hương lên đến tột cùng, khiến bà phải tìm đến rượu đến trăng để ngỏ cùng bầu tâm sự:

 

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.”

 

nhthuyvy16 bởi Tiến sĩ (16.5k điểm)
Cuộc đời rõ là trêu ngươi khi cố đưa bà vào một vòng lẩn quẩn đầy đau khổ. Bà buồn thương cho thân phận bạc bẽo, muốn say để quên sự đời nhưng càng say lại càng tỉnh, không thể nào quên được, cứ thế lại buồn hơn. Hương rượu hay hương tình đều giống nhau, đều đem lại sự cay nồng, đắng chát cho Xuân Hương về nỗi sầu duyên phận.. Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên sự dở dang trong tình yêu, cố vẫy vùng để bươn ra khỏi các nghịch cảnh nhưng đâu dễ, càng buồn càng cảm nhận nỗi đau dày xé tâm can. Niềm đau day dứt khôn nguôi ấy như được nhân lên gấp bội qua nghệ thuật ẩn dụ “vầng trăng”. “Vầng trăng”  tượng trưng cho cuộc đời, tuổi tác của người phụ nữ. Trăng đã xế như tuổi đã luống, tuổi xuân đẹp nhất của người con gái đã trôi qua mà nhân duyên vẫn chưa trọn vẹn. Trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), vầng trăng của Thúy Kiều là một vầng trăng vỡ, đã từng được trọn vẹn nghe đã đủ xót xa thế nhưng vầng trăng của Xuân Hương mãi mãi chỉ là vầng trăng khuyết không thể tròn nguyên được, nghe còn đau đớn nhiều lần hơn.

Tiếp tục hướng về ngoại cảnh, lấy thiên nhiên để tỏ bày tâm trạng, nỗi lòng của mình, Hồ Xuân Hương viết:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.”

Rêu và đá là hai hình ảnh được hiện lên là những vật thể yếu mềm nhưng lại không chấp nhận số phận thấp bé ấy, chúng phải chăng cũng giống như Xuân Hương, luôn lạc quan giữa nghịch cảnh cuộc đời. Ý thơ cấu trúc tương phản để làm nổi bật cái dữ dội, quyết liệt của sự phản kháng: động từ mạnh “xiên ngang” với “đâm toạc”, trên thì “mặt đất” dưới lại có “chân mây”, đặc biệt ba chữ “rêu từng đám” với “đá mấy hòn” đăng đối, hô ứng nhau làm nổi bật sự sinh sôi, nảy nở cũng giống như sự dồn nén, muốn đấu tranh tự giải thoát khỏi chán chường của nhà thơ. “Rêu từng đám” mềm yếu thế mà cũng “xiên ngang mặt đất” được. Chỉ rải rác “đá mấy hòn” mà cũng có thể “đâm toạc chân mây”. Chính biện pháp đảo ngữ đã diệu kì hóa rêu và đá, cho chúng sức sống mãnh liệt hơn bao giờ hết. Thiên nhiên tiềm ẩn một sức sống đang bị đè nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng. Phản ứng tuy dữ dội nhưng thực tại vẫn chua xót làm sao.

Giữa cái thiên nhiên dào dạt, bốn bề mịt mù bao la ấy, người đàn bà hẩm hiu càng cảm thấy tủi hổ hơn bao giờ hết khi phải cam chịu cảnh ngộ:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.”

Nếu Xuân Diệu có câu thơ “ Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn – Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” thì Xuân Hương cũng có hai câu thơ trên nói về sự việc này, quy luật này. Thiên nhiên thuận theo đất trời, xuân đi rồi xuân lại tới, nhưng con người lại khác, với người phụ nữ tuổi xuân trôi đi rồi sẽ chẳng bao giờ quay lại thêm một lần nào nữa. Bởi lẽ đó, nhà thơ sử dụng động từ “ngán” thể hiện sự buồn bã, chán nản khi mỗi mùa xuân trôi đi cũng mang đi tuổi tác và vẻ đẹp của người phụ nữ. Hai từ “lại” xuất hiện liên tiếp nhưng lại mang hàm ý khác nhau. Từ “lại” đầu tiên cho thấy sự tiếp nhận miễn cưỡng, hờ hững, từ “lại” thứ hai chỉ sự trở về, đảo lại theo một quy luật tất yếu. Mùa xuân đáng ra là mùa hạnh phúc sum vầy mà ai cũng hằng mong mỏi thế nhưng khi xuân đến không đúng lúc, lúc lòng người đầy giông bão thương đau thì nó cũng như mùa đông giá rét, ảm đạm khiến con người ta khó có thể mở lòng đón nhận.

Đâu chỉ dừng lại ở đó, nỗi đau làm kiếp vợ lẻ vẫn luôn ngày ngày đay nghiến Xuân Hương. Theo quy luật thông thường, tình yêu là của hai người nhưng trong xã hội cũ mảnh tình ấy phải san sẻ thành những mảnh ghép nhỏ hơn cho từng người phụ nữ. Cái xã hội thối nát ấy đưa con người ta lâm vào thế phải chia sẻ “cái không thể nào chia sẻ được”, khiến lòng người phụ nữ chằng chịt biết bao vết sẹo thương đau ngang dọc. Nhà thơ đã tinh tế trong cách sử dụng từ ngữ, lồng ghép biện pháp nghệ thuật tăng tiến “con con” để người đọc cảm nhận được rằng, mảnh tình nghe thôi đã đủ mỏng manh, ít ỏi lại còn phải chia ra thành từng “tí con con” nhỏ bé hơn. Mỗi chữ như rung rung những giọt lệ sầu của người nữ sĩ tài ba và dấu chấm cảm cuối cùng ở cuối bài như một dấu chấm hết cho kiếp hồng nhan lở lang, dang dở. Câu thơ là tiếng than thân trách phần đầy chua chat, tủi hờn, tình duyên như tan vỡ, lòng người cũng nhiều phần vỡ tan. Qua đây cũng ngầm ẩn ý về số phận của những người phụ nữ chịu cảnh thê thiếp dưới chế độ cũ, họ không được coi trọng và không có quyền lên tiếng.
Còn nhắc đến “Thương vợ”, chúng ta sẽ thấy được Bà Tú vốn là “con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ”, một người vợ giỏi làm ăn buôn bán, hiền lành. Hai câu đề đã khiến ta hình dung được dáng người phụ nữ với đức tính cần cù, luôn khao khát có được cuộc sống no đủ:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”

Dẫn vào bài thơ, người đọc dễ dàng thấy được từ “quanh năm” chỉ sự tuần hoàn lặp đi lặp lại không hề ngừng của thời gian, từ năm này qua năm khác. Ngay từ đầu Tú Xương đã khái quát ý niệm thời gian cực kỳ tiêu biểu, thời gian luôn tuần hoàn như thế trôi đi, tuổi xuân của bà Tú cũng lặng thầm đếm bước. Bà chôn vùi thanh xuân vào những buổi buôn gánh bán bưng ở mom sông, nơi chẳng chút vững chãi mà còn đầy những cheo leo. Hai từ “mom sông” gợi lên không gian chật hẹp, không phải là nơi buôn bán tấp nập và sầm uất. Nhưng bà phải tần tảo mưu sinh đêm ngày ở đó để có thể chăm lo cho “năm con với một chồng”.
nhthuyvy16 bởi Tiến sĩ (16.5k điểm)
Bà nuôi đủ sáu con người về cả số lượng lẫn chất lượng. Tú Xương tách riêng “năm con” với “một chồng” như tự hạ thấp bản thân mình, xem mình ngang hàng với con, không chỉ thế ông còn đứng cuối cùng. Nhịp thơ biến đổi 2/2/1/2 thể hiện sự ngập ngừng, ngắt quãng, cũng như đầy tủi hổ khi ông phải “ăn theo” con, “ăn bám” vợ. Người phụ nữ thời phong kiến nuôi con được xem như một trách nhiệm thường tình nhưng nuôi chồng thì lại không. “Năm con” là số nhiều, tưởng chừng như đầy vất vả nhưng dù sao chỉ cần lo đủ cho chúng cơm ăn, áo mặc. “Một chồng” tuy ít nhưng chi phí còn hơn với năm đứa con kia, chồng không những phải được ăn ngon mà còn phải mặc đẹp. Ta có thể thấy được bà Tú là một người vợ đảm đang, giỏi giang biết bao mới có thể “nuôi đủ” vật chất lẫn tinh thần cho con và chồng. Qua đó, ta cũng cảm nhận được nỗi lòng của ông Tú, sự ăn năn, hối hận và biết ơn vợ được thể hiện qua từng câu chữ. Thấm thía nỗi gian lao của vợ, ông mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

Trong ca dao dân gian, hình ảnh “con cò” đã trở thành một biểu tượng cho người mẹ, người phụ nữ. Chính cội nguồn dân tộc ấy lại tiếp tục chảy mạnh trong hai câu thơ trên của Tú Xương. Hình ảnh “con cò” đã đủ thương tâm bao phần nhưng Tú Xương lại còn đi xa hơn câu ca dao ấy khi sử dụng phép ẩn dụ đồng nhất “thân cò” với thân phận người vợ. Không còn là một con vật cụ thể mà là thân phận, số phận, một cái gì rất mỏng manh, nhỏ bé trước biết bao vần vũ của cuộc đời. Nhà thơ đã khéo léo sử dụng đảo ngữ “lặn lội thân cò”, “eo sèo mặt nước” để làm tăng nỗi cơ cực, vất vả của bà Tú. Bát cơm, manh áo mà bà kiếm được để “nuôi đủ năm con với một chồng” phải đánh đổi bằng cách “lặn lội” trong mưa nắng, giành giật “eo sèo” giữa chốn “đò đông”.

Người xưa vẫn thường răn dạy:

“Con ơi nhớ lấy câu này,
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua.”

Ấy thế mà bà Tú chẳng ngại “sông sâu” lẫn “đò đầy”, bà bôn ba kể cả “khi quãng vắng” lẫn những “buổi đò đông”. Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều vất vả. Không gian lẫn thời gian đều chứa đầy lo âu, nguy hiểm, bất trắc thế nhưng bà chẳng bao giờ từ bỏ, cũng chưa một lần oán than. Ở bà hiện lên dáng vẻ lặng thầm chấp nhận những buồn đau trong cuộc sống như đã được an bài, bà chấp nhận nỗi cơ đơn, sống một kiếp đời dằn vặt những gian truân. Điều đó được thể hiện rõ rệt qua hai câu luận:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”

Lại một lần nữa ta bắt gặp yếu tố dân gian trong thơ Tú Xương, đó là hai thành ngữ “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”.  Ta có thể thấy được sự tương phản giữa các từ: “một duyên” tương phản với “hai phận”, “năm nắng” với “mười mưa”. Các từ là bội số của nhau qua từng cặp một, thể hiện sự vất vả, dãi dầu của bà Tú ngày càng tăng dần theo thời gian. “Duyên” chính là tình yêu, hạnh phúc, là sự kết hợp đẹp đẽ mà bà Tú từng có khi may mắn được cái “duyên” sánh bước cùng người thông minh, hay chữ, nghĩa tình như ông Tú. Thế nhưng, một cái “duyên” ấy phải đánh đổi lại bằng cả “hai nợ” ở phía sau, đó là cái “nợ” đời, cái trách nhiệm đau khổ mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng. Cái “nợ” đó đẩy bà vào hoàn cảnh phải trải qua “năm nắng mười mưa”, tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực trong cuộc đời.
Tuy vậy, không vì thế mà bà chấp nhận từ bỏ. Những khó khăn chồng chất càng làm nổi bật sức lực phi thường của người vợ đã gánh vác tất cả. Hai cụm từ “âu đành phận”, “dám quản công” cho thấy bà vẫn luôn cam chịu số phận cực nhọc, không ngại công sức, bà gánh hết phần khó về mình. Ở bà Tú là thái độ chính chắn trước duyên phận, độ lượng trước hoàn cảnh. Tưởng như đã nhập thân vào nhân vật, Tú Xương nói hộ những nỗi thiệt thòi của vợ, thể hiện tấm lòng thương vợ đồng thời cũng thấm thía rõ đức hi sinh của người bạn đời. Bởi lẽ đó, ở hai câu kết ông cất lên tiếng oán trách đầy tự nhiên, bình dị:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”

Nhà thơ tự trách mình “ăn lương vợ” mà “ăn ở bạc”, vai trò người chồng, người cha đáng lẽ phải làm trụ cột gia đình nhưng chẳng giúp ích được gì thì cũng như “hờ hững” với vợ con. Ở cái thời mà xã hội đã có luật bất thành văn đối với người phụ nữ: "xuất giá tòng phu”, “phu xướng, phụ tùy”  thế mà có một nhà nho dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừa nhận mình là quan ăn lương vợ, không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn dám tự nhận khuyết điểm. Một người như thế hẳn phải đáng thương hơn là đáng trách. Ông chua xót phê phán cái “thói đời” là xã hội đương thời thối nát. Chính cái xã hội phong kiến chứa đầy những tập tục cổ hủ cùng miệng đời thị phị, đàm tiếu không cho phép ông đường đường chính chính gánh giúp vợ một phần khó khăn. Chính cái xã hội thuộc địa đầy bạc bẽo, đểu cáng khiến bà Tú tần tảo sớm tối mà vẫn nghèo đói. Dẫu là cái bóng mờ nhạt trong gia đình nhưng nhà thơ vẫn không hề mang thái độ thản nhiên với nhọc nhằn của vợ. Tú Xương tuy không phải người chồng hoàn hảo nhưng cũng là người chồng có nhân cách đáng quý hơn ai hết.
Gấp lại trang thơ như gấp lại chuỗi bi thương của Hồ Xuân Hương hay gấp lại chuỗi ngày truân chuyên của bà Tú, thế nhưng ta vẫn còn xót xa cho hoàn cảnh của hai người phụ nữ như đại diện cho thân phận người phụ nữ thời xưa. Nỗi đau khi phải đứt ruột chấp nhận số kiếp làm lẻ của mình như được tăng gấp bội qua tài năng dụng từ hết sức thâm sâu, kết hợp với các hình ảnh giàu sức gợi cảm, tinh tế. Hồ Xuân Hương đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật đặc sắc như ẩn dụ, tăng tiến, đảo ngữ,… đầy chua xót làm người đọc không thể không rung cảm trước hoàn cảnh đầy éo le của bà. Sự tần tảo cực nhọc khi phải bươn chải khắp chốn để “nuôi đủ năm con với một chồng” như được tăng gấp bội qua tài năng dụng từ hết sức thâm sâu, kết hợp với các hình ảnh giàu sức gợi cảm, tinh tế của Tú Xương. Ông đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật đặc sắc như ẩn dụ, phép đối, đảo ngữ,… đầy chua xót làm người đọc không thể không rung cảm trước hoàn cảnh khó khăn của bà Tú. Cả hai bài thơ đều hiện lên cả bi kịch và khát vọng sống hạnh phúc của người phụ nữ, khi họ cố vươn lên nhưng vẫn bị rơi vào vòng quay lẩn quẩn, tù túng của xã hội đương thời.
Qua bài thơ “Thương vợ”, ta thêm phần yêu mến bà Tú cũng như quý trọng những người phụ nữ trong xã hội cũ. Người phụ nữ Việt Nam là vậy, bà Tú là vậy, họ coi “giang sơn nhà chồng” là việc của mình, họ tự nguyện gánh vác không so đo, oán than. Qua bài thơ “Tự tình” (II), ta thêm phần yêu mến Hồ Xuân Hương cũng như quý trọng những người phụ nữ trong xã hội cũ. Họ phải chịu đựng những niềm đau, nỗi buồn của cảnh lấy chống chung, bị hắt hủi một mình trong đêm dài quạnh quẽ. Chính sự thấu hiểu sâu sắc cùng với nghệ thuật dùng từ điêu luyện của hai thi sĩ đã khiến tác phẩm tồn tại như một giá trị vĩnh cửu vượt qua tất cả thử thách khắt khe của thời gian, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng đối tượng tiếp nhận, khiến cho triệu vạn người phải rơi nước mắt khóc than cho số phận người phụ nữ thời phong kiến.
+1 thích
trần huy bởi Thần đồng (512 điểm)

“Thân em như củ ấu gai

Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen

Ai ơi ném thử mà xem

Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi” 

Đã từ lâu, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa đã xuất hiện nhiều qua những câu ca dao với những vẻ đẹp, hình tượng khác nhau. Nhưng ở họ đều có chung đức tính truyền thống đẹp đẽ mà dân tộc Việt Nam đã tích luỹ được qua hàng ngàn năm lao động và đấu tranh. Hình ảnh đó cũng được thể hiện rất tài tình qua hai bài thơ Tự Tình II cua Hồ Xuân Hương Và Thương Vợ của Trần Tễ Xương.

Hình ảnh đầu tiên của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua hai bài thơ đó là hình tương người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau khổ, vất vả trong cuộc sống. Đó là hình ảnh bà Tú vất vả, gian truân kiếm sống, tất bật ngược xuôi “Quanh năm buôn bán ở mom sông”. Câu thơ đã nói lên một hoàn cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà. Ở đây, bà Tú làm việc vất vả suốt cả năm, không kể mưa nắng trên mom sông- cái doi đất nhô ra đầy nguy hiểm. Thấm thía nỗi vất vả, gian truân của vợ, Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cà trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương con tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian mà còn là rợn ngợp của thời gian. Hình ảnh thân cò như một sự sáng tạo:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

đưa từ lặn lội lên đầu câu, thay con cò bằng thân cò cũng làm tăng thêm nỗi vất vả, gian truân của bà Tú, càng khơi dậy cả nỗi đau thân phận sâu sắc, thấm thía hơn:

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Câu thơ gợi nên một sự chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ, sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng mà đó còn là sự chen lấn, xô đẩy chứa đầy bất trắc, nguy hiểm. Những câu thơ đã làm nổi rõ lên những vất vả, cực nhọc mà bà Tú và người phụ nữ Việt Nam xưa phải chịu đựng, trải qua.

Còn với bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương thì đó là sự khổ đau vì không làm chủ được số phận của mình:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non.”

Mở đầu là một âm thanh vang vọng, đầy hối hả: Trống canh dồn. Nhưng dù mãnh liệt đến mấy, tiếng trống cũng chỉ là âm thanh duy nhát trong đêm vắng, nếu không có nó thì đem khuya sẽ trở nên vô cùng vắng lặng. Cái động đã đươc sử dụng để tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm khuya. Nửa đêm là thời gian sum họp của vợ chồng, là thời điểm hạnh phúc lứa đôi, ấy vậy mà lại có người phụ nữ tĩnh dậy vào đúng thời khắc thiêng liêng ấy, hay vì cả đêm người phụ nữ đã không ngủ được vì thiếu vắng một điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi đau? Tiếng trống canh âm vang từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau, gọi đến một điều đáng sợ đôí với một người đàn bà vẫn còn thân đơn gối chiếc: đó là tuổi già. Tuổi già càng đến gần nghĩa là hi vọng càng tuột xa, mọi mong mỏi, khát khao càng trở nên vô vọng. Tiếng trống dồn dập cứ xoáy sâu vào tâm con người phụ nữ, nó âm vang trong tâm tưởng, âm vang trong suy nghĩ không tài nào dứt được. Dồn dập, hối hả, tiếng trống không chỉ bao trùm lên không gian mà còn lên cả thời gian nữa, và tự hỏi: đây có thật là tiếng trống hiện hữu trong thực tại hay phải chăng đó là tiếng trống cất lên từ tiếng lòng thổn thức của tác giả, tiếng trống ám ảnh về một bi kịch đang ngày càng đến gần hơn với bà:

“Trơ cái hồng nhan với nước non”

Khi thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập thì cũng là lúc “hồng nhan” ngày một trơ ra với đời. “Hồng nhan” chính là nhan sắc, gương mặt xinh đẹp của người phụ nữ. Đó là điều mà bất cứ người phụ nữ nào cũng hết sức tự hào, coi trọng, nâng niu. Nhưng từ “cái” gắn liền với “hồng nhan” như một hòn đá kéo nặng cả câu thơ xuống. “Hồng nhan” để làm gì khi nữa đêm phải tĩnh giấc trong cái trống trãi, lặng lẽo đến đắng cay? “Hồng nhan” để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cữu mà sẽ nhanh chóng vỡ tan theo từng nhịp trống dồn. Câu thơ như lời đay nghiến, mỉa mai chính bản thân mình, đáng thương cho những người phụ nữ đương thời bị đè nén, áp bức với những thủ tục phong kiến đến mức xơ xác, héo mòn cả một phận hồng nhan. Đó còn là nỗi đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi, không người yêu thương, thông cảm.

“Chén rượi hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Hai câu thơ vẽ nên một khung cảnh rất thật và cũng chứa chan bao nỗi niềm tác giả. Một người phụ nữ mà phải ngồi uống rượu một mình, cô đơn với đêm khuya, với vầng trăng lạnh. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng với người. Khi muốn quên sầu là lúc người ta ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi xung quanh không có ai để có thể chia sẽ nỗi niềm và ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong men rượu, một mình. Nhưng liệu chén rươu có thể làm quen đi bảo nỗi cô đơn, tủi nhục trong lòng hay Hồ Xuân Hương uống rượu mà như uống đi bao giọt sầu mà người uống chẳng đổ đi được khi mà có thể lặng lẽ, âm thầm nuốt vào cổ họng, để đau khổ cũng chẳng mất đi đâu mà trở lại chính trong tâm trí mình. Ở đây cảnh tình Xuân Hương được thể hiện chứa đựng bi kịch. Tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không được trọn vẹn.Trăng vốn là biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước mơ và hi vọng. Nhưng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương lại xót xa đến mức “khuyết chưa tròn”- một hạnh phúc không hề trọn vẹn, một cuộc đời còn dang dở, éo le với những trắc trở trong tình duyên. Hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng khuyết mà bà không thể biết trước ngày mai trăng sẽ khuyết tiếp hay tròn. Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong đó một nỗi cô đơn, trống vắng. Và bóng xế đi kèm với trăng lại gợi nên một nỗi niềm trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang mất đi. Trăng đã xế mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang mất đi mà tình duyên chuă được trọn vẹn. Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ vô cùng độc đáo và đặc sắc, miêu tả chính xác và vô cùng sinh động ngoại cảnh mà cũng bộ lộ được tâm cảnh, những suy nghĩ, tâm tư đang hiện hữu trong bà.

Các câu hỏi liên quan

+2 phiếu
1 trả lời 563 lượt xem
0 phiếu
1 trả lời 1.3k lượt xem
Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương và tác phẩm Thương vợ
đã hỏi 29 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 bởi ngoclinhbui Thạc sĩ (7.0k điểm)
+1 thích
2 câu trả lời 1.2k lượt xem
Soạn bài: Thương vợ (Trần Tế Xương)
đã hỏi 28 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 bởi ngoclinhbui Thạc sĩ (7.0k điểm)
+2 phiếu
2 câu trả lời 1.2k lượt xem
đã hỏi 1 tháng 5, 2018 trong Ngữ văn lớp 11 bởi anhthh_823 Tiến sĩ (15.4k điểm)
+2 phiếu
1 trả lời 1.6k lượt xem
đã hỏi 1 tháng 5, 2018 trong Ngữ văn lớp 11 bởi anhthh_823 Tiến sĩ (15.4k điểm)
+1 thích
1 trả lời 771 lượt xem
0 phiếu
3 câu trả lời 1.4k lượt xem
  Cho bài ca dao:            Thân em như trái bần trôi                                 Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.     Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về người phụ nữ trong xã hội cũ (10 câu).  
đã hỏi 22 tháng 10, 2017 trong Ngữ văn lớp 7 bởi Nguyễn Phương Linh Cử nhân (2.9k điểm)
+2 phiếu
2 câu trả lời 7.9k lượt xem

HOT 1 giờ qua

  1. trannhat900trannhat900

    52948 Điểm

  2. phamngoctienpy1987844phamngoctienpy1987844

    50728 Điểm

  3. vxh2k9850vxh2k9850

    35980 Điểm

  4. Nqoc_bakaNqoc_baka

    34614 Điểm

Phần thưởng hằng tháng
Hạng 1: 200.000 đồng
Hạng 2: 100.000 đồng
Hạng 3: 50.000 đồng
Hạng 4: 20.000 đồng
Phần thưởng bao gồm: mã giảm giá Shopee, Nhà Sách Phương Nam, thẻ cào cùng nhiều phần quà hấp dẫn khác sẽ dành cho những bạn tích cực nhất của tháng. Xem tại đây
Bảng xếp hạng cập nhật 30 phút một lần
...