Trên con đường chi viện cho miền Nam ruột thịt, những người lính đã nếm trải đủ mùi gian khổ. Hết “bụi phun” rồi lại tới “mưa tuôn mưa xối”. Nếu như ở trên biện pháp so sánh “như người già” cho ta hình dung dễ dàng chân dung người lính thì ở đây biện pháp so sánh “như ngoài trời” một lần nữa xuất hiện khiến ta cảm nhận được hiện thực vất vả ra sao trên con đường tiến về miền Nam. Mặc dù ngồi trong xe nhưng lại không khác gì ngồi giữa “ngoài trời”. Áo thì ướt đẫm nhưng chỉ là chuyện nhỏ thôi, họ vẫn “chưa cần thay”, đợi lái qua trăm cây số nữa gió lùa áo sẽ “mau khô thôi”. Nghệ thuật dùng từ của tác giả đã biến khó khăn trở nên nhẹ nhàng hơn cả, ta biết rằng nếu dầm mưa và bị gió thổi khô thì sẽ hết sức lạnh, nhưng người lính ở đây đón nhận nó như một điều hiển nhiên, không kêu ca, không oán trách. Chấp nhận thực tế, câu thơ vẫn vút lên tràn đầy niềm lạc quan sôi nổi. Những tiếng “ừ thì” vang lên như một thách thức, một chấp nhận khó khăn đầy chủ động, một thái độ cứng cỏi. Dường như gian khổ hiểm nguy của chiến tranh chưa làm mảy may ảnh hưởng đến tinh thần của họ, trái lại họ xem đây là một dịp để thử sức mình như người xưa xem hoạn nạn khó khăn để chứng tỏ chí làm trai.
Sau mỗi trận mưa bom bão đạn cùng với những chiếc xe bị tàn phá nặng nề hơn, họ lại gặp nhau trong
những phút dừng chân ngắn ngủi tạo thành một “tiểu đội xe không kính” - tiểu đội những chàng trai lái xe quả cảm, hiên ngang mà hồn nhiên tinh nghịch:
“Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”
Hình tượng người chiến sĩ lái xe thêm một nét đẹp nữa về tâm hồn và tình cảm. Đấy là tình cảm gắn bó,
chia sẻ ngọt bùi của những chàng trai vui vẻ, sôi nổi, yêu đời. Họ - những con người cùng chung lí tưởng
chiến đấu, những con người cùng trải qua gian truân từ bom rơi đã sum họp về một nơi tạo thành tiểu đội.
Họ truyền sức mạnh, niềm tin chiến thắng qua những cái “bắt tay” xuyên những cửa kính đã vỡ, một hình ảnh không thể nào đẹp hơn. Cái bắt tay độc đáo là nét đẹp ấm lòng của tình đồng chí, đồng đội đầy mộc mạc nhưng thấm thía, những cái bắt tay thay cho lời nói. Chỉ có những người lính, những chiếc xe thời chống Mĩ mới có thể có những cái bắt tay ấy, một chi tiết nhỏ nhưng mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng.
Sau những lúc lái xe vất vả, những người lính cũng có những phút nghỉ ngơi, vây quần sinh hoạt như một
đại gia đình thực thụ:
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.”
Những câu thơ cho ta thấy các anh đã coi nhau như anh em máu mủ trong một gia đình. Lúc cắm trại, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng, nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt:
chung bát, chung đũa, mắc võng chông chênh. Tình cảm gia đình của người lính thật bình dị, ấm áp thân
thương tạo nên sức mạnh, nâng bước chân người lính để rồi các anh lại tiếp tục hành quân: “Lại đi, lại đi
trời xanh thêm”, đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong tâm hồn họ, trời như xanh thêm chứa chan hi vọng lạc quan dào dạt. Câu thơ bay bay, phơi phới, thật lãng mạn, thật mộng mơ. Nhịp điệu câu thơ vừa sôi nổi, vừa nhịp nhàng cùng với điệp từ “lại đi” được lặp lại hai lần gợi tả nhịp sống chiến đấu và hành quân của tiểu đội xe không kính mà không một sức mạnh đạn bom nào có thể ngăn cản nổi. Sự sống không chỉ tồn tại mà còn tồn tại trong một tư thế kiêu hãnh, hiên ngang – tư thế của người chiến thắng.
Để kết thúc bài thơ, nhà thơ đã khéo léo sử dụng cấu trúc đầu đuôi tương ứng gợi nhắc lại hình ảnh chiếc xe không kính từ đầu bài thơ để nhấn mạnh những khó khăn mà người lính phải trải qua:
“Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Hai câu đầu là hình ảnh những chiếc xe không còn nguyên vẹn về phương tiện kĩ thuật, liên tiếp những
mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, do đường trường gây ra, những chiếc xe bị hư hỏng nhiều
hơn, dường như bộ phận nào cũng bị phá hủy: không kính, không mui, không đèn, thùng xe có xước... Ấy vậy mà trên những chiếc xe mang đầy thương tích đó lại có những chiến sĩ kiên cường vượt lên trên bom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
Vậy là đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở tiến ra phía trước, hướng ra tiền phương lớn
với một tình cảm thiêng liêng “vì Miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất đất nước đang
vẫy gọi. Dẫu bên ngoài xe có tàn tạ đến đâu nhưng trong xe vẫn còn những trái tim nguyên vẹn, không hề méo mó. Hình ảnh trái tim là một hình ảnh hoán dụ tuyệt đẹp gợi ra biết bao ý nghĩa. Trái tim hội tụ vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người chiến sĩ lái xe. Trái tim nồng cháy một lẽ sống cao đẹp và thiêng
liêng: tất cả vì miền Nam thân yêu. Trái tim mang tinh thần lạc quan và một niềm tin yêu mãnh liệt vào
ngày Bắc – Nam nối liền một dải. Thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ, phẩm chất anh hùng
của người cầm lái tích tụ, đọng kết lại ở cái “trái tim” gan góc, kiên cường, giầu bản lĩnh và chan chứa
tình yêu thương này. Nhà văn đã khéo léo tô đậm những cái “không” để làm nổi bật cái “có”, để khắc tạc
chân lí của thời đại: bom đạn, chiến tranh có thể làm méo mó những chiếc xe, huỷ hoại những giá trị vật
chất nhưng không thể bẻ gãy được những giá trị tinh thần cao đẹp. Để rồi một nước nhỏ như Việt Nam đã chiến thắng một cường quốc lớn một cách vẻ vang, hiển hách. Có thể nói câu thơ cuối bài là những vần thơ chứa đựng hình ảnh đẹp và thiêng liêng nhất cả bài thơ.
Khép lại đoạn thơ như khép lại những thăng trầm đã qua của thời kì kháng chiến hào hùng. Với một ngòi
bút tài hoa, giàu chất hiện thực, giàu chất nhạc, chất họa với hình ảnh thơ sống động, độc đáo, từ ngữ mộc mạc, giọng thơ hào hùng, Phạm Tiến Duật ca ngợi những lính lái xe cùng nhau trên cùng một con đường mang tên cách mạng, tôn vinh tình đồng chí được thắt chặt bằng một sợi dây yêu thương vô hình. Hơn hết, còn là sự vĩnh viễn hóa, bất tử hóa những con người đã góp công khiến cho nước Việt Nam ta “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.
“Bài thơ về tiểu đối xe không kính” thật sự là cuộc sống, là tấc lòng rất thực của Phạm Tiến Duật, là một
tượng đài bất tử về hình tượng người lính. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của
cuộc kháng chiến. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của nhà thơ đối với những người
chiến sĩ cách mạng, đối với đất nước của mình. Thời gian có thể phủ bụi một số thứ nhưng có những thứ
càng xa rời thời gian càng sáng, càng đẹp. Và thi phẩm tuyệt bút này là một minh chứng rõ nét cho điều
đó, chiến tranh đã đi qua, đau thương cũng đã khép lại nhưng công lao cao cả của những người lính vẫn
được lưu truyền ngàn đời qua bài thơ này mặc cho gió bụi thời gian. Hơn hết, đây còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng đối với thế hệ sau này, phải biết kính trọng và biết ơn những người đã đổ máu cho màu đỏ tươi của quốc kì được bay phấp phới trên bầu trời tự do, những người mà:
“Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”