Trên một trăm năm mươi năm trước, có thể trong dịp vào Huế nhận chức Cung trung giáo tập, chức nữ quan dạy học cho các cung nữ, Bà Huyện Thanh Quan đã sáng tác bài “Qua đèo Ngang”, một bài thơ hay, một bức tranh tâm trạng “nhớ nước”, “thương nhà” độc đáo. Dừng chân bên đèo Ngang đã khơi dậy trong lòng bà bao cảm xúc. Đứng trước không gian hoang vu, đìu hiu của núi rừng nơi đèo Ngang, thi nhân bộc lộc tâm sự của mình qua tứ thơ:
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta”
Từ không gian bao la nhưng thanh vắng của Đèo Ngang bỗng vang lên tiếng kêu của hai loài chim. Tiếng kêu ấy không làm mất đi cái tĩnh mịch của không gian mà trái lại càng làm không gian im vắng hơn. Hai âm thanh ấy chỉ mang tính ước lệ để gợi lên nỗi nhớ nước, thương nhà của nhà thơ. Câu thơ mang âm điệu buồn và hoài cổ, thể hiện tâm trạng thương nhớ của nhà thơ đối với quá khứ và niềm xót xa đối với thực tại.
Âm thanh của con cuốc hay chính là tiếng lòng của tác giả. Câu thơ đã sử dụng điển tích xưa của Trung Quốc về vua Thục. Vì mất nước mà hóa thành con cuốc, chỉ biết kêu lên những tiếng đau thương. Âm thanh da diết ấy vang lên trong chiều muộn càng làm cho tâm trạng nhà thơ thêm sầu lặng. Còn tiếng "gia gia" là tiếng kêu tha thiết gợi nỗi "thương nhà". Thương nhà ở đây có lẽ là nỗi nhớ thương đất nước trong quá khứ hào hùng hay cũng là thương cho sự đổi thay, sự lụi tàn của quê hương. Hai câu thơ đã bộc lộ rõ những xúc cảm của thi sĩ. Nghệ thuật chơi chữ đồng âm độc đáo kết hợp với biện pháp nhân hóa " đau lòng" "mỏi miệng" cùng chuyển đổi cảm giác từ nỗi lòng thành tiếng thương tạo ấn tượng mạnh đã cho ta thấy bức tranh ấy không chỉ là cảnh vật mà còn là bức tranh tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan với tình yêu nước thương nhà.
Hai câu cuối cùng trong bài thơ chính là nỗi cô đơn của Bà Huyện Thanh Quan khi dừng chân đứng lại, trời, non, nước:
“Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.”
Sáu câu thơ đầu của bài thơ là một không gian rộng lớn bao lấy con người, đến câu thơ cuối cùng thì hình ảnh của con người mới vượt lên và chiếm lấy vị trí thượng phong trong bức tranh phong cảnh ấy. Giữa bao la đất trời, sự hùng vĩ của non cao và mênh mông của sông nước đã níu giữ bước chân người lữ thứ. Và giữa không gian ấy, tác giả chợt nhận ra nỗi cô đơ và trống trải dần lấp đầy tâm hồn. Một mảnh tình riêng, một nỗi niềm sâu kín trong tâm hồn chẳng thể sẻ chia cùng ai. Chỉ có “Một mảnh tình riêng ta với ta” – ta đối diện với chính mình giữa đất trời rộng lớn, mỗi chữ viết ra đều mang một nỗi niềm đơnc hiếc, đều cực tả nỗi buồn thầm lặng giữa nơi đất khách quê người.
Đến Đèo Ngang, nhìn thấy cảnh vật nơi đây hùng vĩ và nên thơ, Bà Huyện Thanh Quan dừng lại để ngắm nhìn, để cảm nhận và thu vào lòng mình cái đẹp của thiên nhiên. Dẫu trong lòng còn ngổn ngang tâm sự và niềm cô đơn hiện hữu, bà vẫn thể hiện được tư thế hiên ngang của mình, thể hiện bản lĩnh đứng trên nỗi cô đơn của chính mình. Bà dám đối mặt với sự cô đơn chứ không chạy trốn. Bằng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc, thi nhân đã bộc lộ được những tâm tư, nỗi niềm thầm kín. Đó là tâm trạng hoài cổ nhớ thương nước, thương nhà da diết, một nỗi buồn thầm lặng cô đơn của tác giả.
Bài thơ Qua Đèo Ngang” là tiếng nói của một người mà trở thành khúc tâm tình của muôn triệu người, nó là bài thơ của một thời và mãi mãi, bài thơ non nước. Và chính bốn câu thơ cuối cũng là nỗi lòng sâu kín của những con người sống trong thế hệ trước, một tấm lòng buồn vời vợi vì vận mệnh của nước nhà.