Con người “dở hơi, xấu ma chê quỷ hờn” ấy là đóm sáng nhỏ nhoi duy nhất còn sót lại của làng Vũ Đại có thể chiếu rọi vào khoảng trời đêm đầy tăm tối của Chí Phèo. Sự xuất hiện của thị Nở cùng bát cháo hành đã biểu hiện cho sự đồng cảm và tình người nhân hậu. Hơi ấm của bát cháo hành chính là hơi ấm đã đánh thức một phần lương thiện bấy lâu chìm khuất trong hình ảnh của con quỷ dữ, giờ đây sức sống tâm hồn đã trổi dậy trong Chí. Sau khi con người lương thiện phục sinh, Chí đã tỉnh dậy lắng nghe những âm thanh bình dị mộc mạc hàng ngày mà lâu nay Chí quên lãng. Những âm thanh gợi cho Chí những hoài tưởng về một thời êm đẹp: ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Một lần nữa Nam Cao lại nhắc ta nhớ về bản chất lương thiện vốn có của Chí Phèo. Đáng lẽ ra Chí cũng sẽ có được một cuộc sống bình thường như bao người khác nhưng giờ đây khi tỉnh dậy, Chí mới thấy mình đã già mà vẫn còn cô độc, Chí tỉnh táo nhận ra mình đang đã tới “cái dốc bên kia của đời” mà vẫn đơn côi, lẻ bóng. “Chao ôi là buồn!”, thì ra Chí cũng biết buồn, một cảm xúc bình thường của một con người, Chí sợ tuổi già ầm ập ào tới, sợ cảnh “đói rét và ốm đau và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn là đói rét và ốm đau”. Thị Nở đã thật sự thay đổi cuộc đời Chí từ giây phút ấy. Chí thật lòng “say thị lắm”, “hắn thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ”. Thế mới thấy sức cảm hóa kì diệu của tình thương. Bằng chi tiết này, Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo đẹp đẽ, cho Chí Phèo một tia hi vọng về một ngày không xa, Chí sẽ được công nhận là một con người.
Nhưng những giây phút được yêu của cuộc sống lứa đôi với Chí thật ngắn ngủi, hạnh phúc vừa hé mở đã khép lại. Chí Phèo và thị Nở đã dắt tay nhau tới ngưỡng cửa cuộc đời nhưng bị từ chối phũ phàng bởi định kiến xã hội mà bà cô thị Nở là đại diện. Sau khi trút vào mặt Chí những lời chỉ trích của bà cô mình, thị “ngoay ngoáy cái mông *** đi ra về”. Ngay lúc ấy, Chí “sửng sốt”, “gọi lại”, “đuổi theo”, “nắm lấy tay” thị. Những biểu hiện và hành động đó cho thấy sự khao khát tình yêu, thiết tha đến với thị, đến với cuộc đời lương thiện. Chỉ trong chớp mắt Chí mất đi người duy nhất công nhận sự tồn tại của mình, chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng cũng không trọn vẹn cho Chí, như ánh cầu vồng vụt tắt sau cơn mưa, như ngọn lửa nhỏ bị dập tắt khi mới vừa được nhen nhóm khát vọng làm người, Chí đã bị cự tuyệt hoàn toàn. Đối diện với hiện thực, Chí Phèo mới giật mình và nhận thức một cách sâu sắc hơn, rằng mình đã bị từ chối khỏi cộng đồng và không thể trở thành người lương thiện trong con mắt mọi người được nữa. Cánh cửa trở về với xã hội lương thiện vừa mở ra đã đóng sầm lại ngay trước mắt Chí. Thị Nở như tia chớp rạch ngang bầu trời đêm đen tối của Chí vừa đủ để soi lên một niềm cảm thông cũng đã tắt ngấm. Nói xa hơn, xã hội thực dân nửa phong kiến đã cướp đi quyền làm người của Chí và vĩnh viễn không trả lại. Nó đã tiêu hủy và bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời. Như thói quen ngày nào, Chí lại tìm quên trong men rượu. “Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành”. Hương cháo hành hay hương vị ngọt ngào của tình yêu nhắc Chí về tình người ấm áp, về những ngày hạnh phúc ngắn ngủi bên thị Nở để rồi tất cả đều tan biến như ảo mộng giữa đời tường mà những kẻ tội đồ như Chí không có quyền được hưởng.
Gấp lại trang văn, ta vẫn không khỏi xót thương cho một tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật chính. Nam Cao đã mang đến những giá trị nhân văn cao đẹp có thể rung cảm trái tim cảm thông của người đọc. Tác phẩm đã lên án, tố cáo tội ác của chế độ thực dân nửa phong kiến đã đàn áp và bóc lột nhân dân lao động qua tài năng miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế của tác giả. Nam Cao đã thành công khi khắc họa hình tượng nhân vật điển hình cùng với nghệ thuật kể chuyện không theo trình tự thời gian, ngôn ngữ tự nhiên, nhiều khẩu ngữ gần gũi với đời sống…
“Chí Phèo” là một tuyệt tác bất hủ bởi nó chứa đựng trong đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc. Tác phẩm là bản tuyên cáo hùng hồn lên án những mặt trái xấu xa của xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời đã “cự tuyệt quyền làm người” của những phận đời nông dân bản chất hiền lành như Chí. Đây là bài ca về vẻ đẹp của tình người, của sức sống mãnh liệt được hồi sinh từ một trái tim vốn quen với những nhịp điệu quay cuồng trong “cơn lốc quỷ”. Bởi lẽ đó, “Chí Phèo” vẫn mãi mãi bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc, vượt qua mọi gió bụi thời gian mà tồn tại như một gia tài quý giá trong nền văn học Việt Nam, chứng minh được sức sống mạnh mẽ, bất hủ của nó:
“Nam Cao mất và Chí Phèo vẫn sống
Nào có dài chi một kiếp người
Nhà văn chết, nhân vật từ trang sáng
Vẫn ngày ngày lăn lóc giữa trần ai.”
Con người “dở hơi, xấu ma chê quỷ hờn” ấy là đóm sáng nhỏ nhoi duy nhất còn sót lại của làng Vũ Đại có thể chiếu rọi vào khoảng trời đêm đầy tăm tối của Chí Phèo. Sự xuất hiện của thị Nở cùng bát cháo hành đã biểu hiện cho sự đồng cảm và tình người nhân hậu. Hơi ấm của bát cháo hành chính là hơi ấm đã đánh thức một phần lương thiện bấy lâu chìm khuất trong hình ảnh của con quỷ dữ, giờ đây sức sống tâm hồn đã trổi dậy trong Chí. Sau khi con người lương thiện phục sinh, Chí đã tỉnh dậy lắng nghe những âm thanh bình dị mộc mạc hàng ngày mà lâu nay Chí quên lãng. Những âm thanh gợi cho Chí những hoài tưởng về một thời êm đẹp: ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Một lần nữa Nam Cao lại nhắc ta nhớ về bản chất lương thiện vốn có của Chí Phèo. Đáng lẽ ra Chí cũng sẽ có được một cuộc sống bình thường như bao người khác nhưng giờ đây khi tỉnh dậy, Chí mới thấy mình đã già mà vẫn còn cô độc, Chí tỉnh táo nhận ra mình đang đã tới “cái dốc bên kia của đời” mà vẫn đơn côi, lẻ bóng. “Chao ôi là buồn!”, thì ra Chí cũng biết buồn, một cảm xúc bình thường của một con người, Chí sợ tuổi già ầm ập ào tới, sợ cảnh “đói rét và ốm đau và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn là đói rét và ốm đau”. Thị Nở đã thật sự thay đổi cuộc đời Chí từ giây phút ấy. Chí thật lòng “say thị lắm”, “hắn thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ”. Thế mới thấy sức cảm hóa kì diệu của tình thương. Bằng chi tiết này, Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo đẹp đẽ, cho Chí Phèo một tia hi vọng về một ngày không xa, Chí sẽ được công nhận là một con người.
Nhưng những giây phút được yêu của cuộc sống lứa đôi với Chí thật ngắn ngủi, hạnh phúc vừa hé mở đã khép lại. Chí Phèo và thị Nở đã dắt tay nhau tới ngưỡng cửa cuộc đời nhưng bị từ chối phũ phàng bởi định kiến xã hội mà bà cô thị Nở là đại diện. Sau khi trút vào mặt Chí những lời chỉ trích của bà cô mình, thị “ngoay ngoáy cái mông *** đi ra về”. Ngay lúc ấy, Chí “sửng sốt”, “gọi lại”, “đuổi theo”, “nắm lấy tay” thị. Những biểu hiện và hành động đó cho thấy sự khao khát tình yêu, thiết tha đến với thị, đến với cuộc đời lương thiện. Chỉ trong chớp mắt Chí mất đi người duy nhất công nhận sự tồn tại của mình, chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng cũng không trọn vẹn cho Chí, như ánh cầu vồng vụt tắt sau cơn mưa, như ngọn lửa nhỏ bị dập tắt khi mới vừa được nhen nhóm khát vọng làm người, Chí đã bị cự tuyệt hoàn toàn. Đối diện với hiện thực, Chí Phèo mới giật mình và nhận thức một cách sâu sắc hơn, rằng mình đã bị từ chối khỏi cộng đồng và không thể trở thành người lương thiện trong con mắt mọi người được nữa. Cánh cửa trở về với xã hội lương thiện vừa mở ra đã đóng sầm lại ngay trước mắt Chí. Thị Nở như tia chớp rạch ngang bầu trời đêm đen tối của Chí vừa đủ để soi lên một niềm cảm thông cũng đã tắt ngấm. Nói xa hơn, xã hội thực dân nửa phong kiến đã cướp đi quyền làm người của Chí và vĩnh viễn không trả lại. Nó đã tiêu hủy và bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời. Như thói quen ngày nào, Chí lại tìm quên trong men rượu. “Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành”. Hương cháo hành hay hương vị ngọt ngào của tình yêu nhắc Chí về tình người ấm áp, về những ngày hạnh phúc ngắn ngủi bên thị Nở để rồi tất cả đều tan biến như ảo mộng giữa đời tường mà những kẻ tội đồ như Chí không có quyền được hưởng.
Gấp lại trang văn, ta vẫn không khỏi xót thương cho một tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật chính. Nam Cao đã mang đến những giá trị nhân văn cao đẹp có thể rung cảm trái tim cảm thông của người đọc. Tác phẩm đã lên án, tố cáo tội ác của chế độ thực dân nửa phong kiến đã đàn áp và bóc lột nhân dân lao động qua tài năng miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế của tác giả. Nam Cao đã thành công khi khắc họa hình tượng nhân vật điển hình cùng với nghệ thuật kể chuyện không theo trình tự thời gian, ngôn ngữ tự nhiên, nhiều khẩu ngữ gần gũi với đời sống…
“Chí Phèo” là một tuyệt tác bất hủ bởi nó chứa đựng trong đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc. Tác phẩm là bản tuyên cáo hùng hồn lên án những mặt trái xấu xa của xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời đã “cự tuyệt quyền làm người” của những phận đời nông dân bản chất hiền lành như Chí. Đây là bài ca về vẻ đẹp của tình người, của sức sống mãnh liệt được hồi sinh từ một trái tim vốn quen với những nhịp điệu quay cuồng trong “cơn lốc quỷ”. Bởi lẽ đó, “Chí Phèo” vẫn mãi mãi bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc, vượt qua mọi gió bụi thời gian mà tồn tại như một gia tài quý giá trong nền văn học Việt Nam, chứng minh được sức sống mạnh mẽ, bất hủ của nó:
“Nam Cao mất và Chí Phèo vẫn sống
Nào có dài chi một kiếp người
Nhà văn chết, nhân vật từ trang sáng
Vẫn ngày ngày lăn lóc giữa trần ai.”