Nếu bánh xe thời gian có thể đưa tôi đi ngược dòng quá khứ, tôi ước mình được một lần chứng kiến nỗi đau oằn mình chống nạn đói của dân tộc. Hẳn là trước mắt tôi sẽ xám xịt một màu sương khói đạn lạc, những cánh đồng trơ trụi xác xơ, những giọt nước mắt hòa lẫn máu xương đồng bào. Nhưng trong hiện thực khắc nghiệt ấy, tôi bắt gặp những mảnh đời vô cùng bất hạnh, cơ cực lại không vì hoàn cảnh mà giẫm đạp lên nhau. Và những điều tốt đẹp đó đã xuất hiện trong truyện ngắn “Vợ nhặt”của nhà văn Kim Lân. Nhắc tới Kim Lân, tôi chỉ biết rằng ngòi bút của ông là hiện thân cho câu nói “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng chính cuộc sống viết ra”. Thật vậy, ông là nhà văn “nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với những gì thuần hậu, nguyên thủy của làng quê Việt Nam”, và “Vợ nhặt” đã chứng minh rõ nét cho điều đó. Đây là một truyện ngắn xuất sắc có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”, được viết ngay sau cách mạng tháng Tám, nhưng bị mất bản thảo và được hoàn thành vào năm 1954. Thiên truyện không chỉ tố cáo tội ác của chế độ cũ mà còn khắc hoạ thành công vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo khổ, cụ thể là nhân vật Tràng – anh thanh niên được xem như là một trong những sự đẽo gọt sơ sài của tạo hóa.
Lấy bối cảnh là một xóm ngụ cư những năm nạn đói 1945, có thể nói Kim Lân đã rất tài tình khi “đặt nhân vật kề bên nanh vuốt của cái chết”. Khi mà cái chết hiện lên thành hình, những người chết “nằm còng queo, nằm ngổn ngang”,“những người sống đi lại dật dờ như những bóng ma”, “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Cái chết hiện hình trong cả những âm thanh người khóc tỉ tê, tiếng quạ trên cành cây gạo. Thậm chí là trong cả màu “xanh xám”, gợi cái cảm giác “heo hút, ngăn ngắt”, lạnh lẽo. Ta thấy ở đó rùng rợn một bức tranh mà ranh giới giữa sự sống và cái chết vô cùng mỏng manh, cõi âm nhập nhòa trong cõi dương, trần gian mấp mé miệng vực của âm phủ.
Kim Lân đã cho người đọc tiếp cận với nhân vật Tràng trên cái nền không gian u ám như thế, nhưng anh cu Tràng lại không hề mang tí ảm đạm nào “giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy”. Tràng xuất hiện với vẻ “vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”, nụ cười của anh xuất hiện như xua tan khoảng không gian bị bao trùm đen nghịt bởi cái đói hiện ra trước mắt người đọc. Kim Lân đã làm sáng lên hình ảnh một anh cu Tràng bấy lâu bị vùi lấp bởi nỗi cơ cực, bần hàn của cuộc mưu sinh tủi nhục. Thì ra, cái vẻ “khác thường” ấy là do anh đã cưới được vợ, một câu chuyện bi hài giữa anh và thị, khi trong cái đói quay quắt, sợi tơ duyên của hai con người xa lạ bỗng quấn vào nhau. Tràng trước kia là một gã “khố rách áo ôm”, là một gã ngờ nghệch, thô kệch và hết sức xấu xí, đã vậy còn hay lẩm bẩm một mình. Nhưng Tràng giờ đây là một người đàn ông hạnh phúc với gương mặt “phớn phở” đầy kiêu hãnh, với nụ cười “tủm tỉm” đầy ý vị, với đôi mắt “lấp lánh” đầy vẻ mãn nguyện khi đi cùng thị. Điều đó khiến người đọc bắt đầu cảm thấy tò mò về Tràng, về những thay đổi kì diệu trong con người anh.
Tôi nhớ Thạch Lam từng nói: “Cái đẹp nằm trong cuộc sống, cái đẹp len lỏi khắp các hang cùng ngõ hẻm, cái đẹp ở những chỗ không ai ngờ tới, cái đẹp tiềm tàng che lấp sự vật”. Và quả thật như vậy, bề ngoài của Tràng đói rách, khó coi không có nghĩa là tâm hồn héo úa. Sở dĩ tôi có thể chắc chắn được như thế là bởi giữa cái năm “đói mòn đói mỏi” ấy, đến cái ăn cái mặc của mình còn không lo được, nhưng Tràng lại sẵn sàng dang rộng đôi bàn tay của mình để cưu mang, giúp đỡ một người phụ nữ hoàn toàn xa lạ, lại thêm cái tính “chao chát, cong cớn, chỏng lỏn”. Nói một cách công bằng, Tràng không hề có chủ ý muốn cưới người “vợ nhặt”, tất cả chỉ là bông đùa. Chỉ là một lời mời chào xã giao “muốn ăn cơm trắng mấy giò này, lại đây mà đẩy xe bò với anh nì!”, một lời hứa hẹn xuông, một lời rủ rê “chưa chính thức”, thế là có vợ thật.