Nguyễn Bính làm thơ từ rất sớm, khi mới 13 tuổi. Năm 1937 nhận được giải thưởng thơ của Tự lực Văn đoàn với tập Tâm hồn tôi. Nguyễn Bính viết rất nhiều và sống chủ yếu bằng tiền nhuận bút thơ. Ông là một tác gia hàng đầu của phong trào Thơ mới, có công chúng đông đảo và rộng rãi. Ngoài thơ và truyện thơ, ông còn sáng tác kịch thơ và soạn chèo. Ông đã được Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt II (2000). Nguyễn Bính thường được mệnh danh là nhà thơ chân quê hay thi sĩ của đồng quê. Điều ấy quả thực dễ hiểu. Đọc thơ ông, nhiều lúc ta được đắm mình vào những cảnh quê bình dị mà thân thuộc, những cảnh có thể gợi trong ta niềm hoài nhớ về một cái gì thật cảm động, thật thiêng liêng đã làm nên tâm hồn, cốt cách Việt Nam của mình mà mình có lúc xa rời hoặc phủ bạc.
Này là cảnh êm đềm, thanh mát, trong trẻo của một ngày xuân, này là cảnh trăng dãi ánh vàng lên một tổ ấm hạnh phúc: Sáng giăng chia nửa vườn chè / Một gian nho nhỏ đi về có nhau... Này là cảnh nôn nao chờ đợi hội chèo, chờ đợi cơ hội gặp gỡ vào buổi mưa bụi cùng hoa xoan phơi phới giăng tơ. Và đây nữa, cảnh eo một chàng trai ngồi tương tư, hờn trách bạn tình trong tâm tưởng để nỗi bồn chồn lan sang cả cây lá, đượm thấm cả không gian… Còn nhiều lắm những cảnh như thế, đẹp trong vẻ yên bình có khi phi thực, phản chiếu nét thuần phác trong tâm hồn một kẻ dù gặp nhiều bất hạnh bởi cuộc dan díu với kinh thành vẫn muốn giữ nguyên quê mùa. Nhưng muốn là một chuyện, còn thực tế cuộc đời đâu dễ chiều người, huống chi người ấy lắm lúc đã “tặc lưỡi buông thả minh theo cái xô bồ của đô thị”. Không có gì lạ khi ta thấy Nguyễn Bính còn rất hay viết về những cuộc tình oan trái, dở dang, những chuyến giang hồ vặt, lấy chất liệu từ chính bản thân mình. Giọng thơ có khi não nề, sướt mướt, có khi bi phẫn:
Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên khắp bốn trời.
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Đọc những câu thơ ấy, độc giả nhận ra bi kịch của một thi sĩ hiện đại đặc thù trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa, nhận ra những hoang mang, thao thức, ân hận, sám hối đang diễn ra trong tâm hồn họ và thêm trân trọng những vần thường được gọi là chân quê. Đâu phải đơn giản nhà thơ thấy thế thì tả thế. Cái chân quê của Nguyễn Bính, nói cho cùng, là cái chân quê của một nhà Thơ mới với toàn bộ những mâu thuẫn phức tạp của anh ta, không thể giống hoàn toàn (và thực ra cũng không nên giống) với cái chân quê của ca dao. Nếu giống Nguyễn Bính đâu còn cái gì là đặc sắc, để được yêu, được nhớ, như ông đã từng được nhớ, được yêu?
Bài thơ Tương tư được in vào tập Lỡ bước sang ngang (1940) là một trong những tác phẩm nổi bật nhất của Nguyễn Bính trước Cách mạng. Những nét đặc sắc trong phong cách thơ Nguyễn Bính gần như đều được thể hiện ở đây. Bài thơ là một minh chứng cho tài làm thơ lục bát của người thi sĩ tỉnh Nam, đã thể hiện được sự “giao duyên” đẹp đẽ giữa hồn dân giã với hồn thơ mới. Ta không thấy ở đây tật kể lể dài dòng và lắm khi dễ dãi vốn tồn tại trong khá nhiều bài thơ của Nguyễn Bính. Không phải ngẫu nhiên mà bài thơ vừa được độc giả đại chúng đón nhận lại vừa được lớp độc giả khó tính, sành sỏi văn chương yêu mến và đánh giá cao. Qua đó, Tương tư trở thành một trong những bài thơ được đánh giá cao nhất của Nguyễn Bính trước Cách mạng. Nó cũng thường được xếp vào loại những tác phẩm hàng đầu của phong trào Thơ mới 1932 - 1945.
Tương tư có một nội dung bình dị, dễ cảm. Cảm xúc được phô bày trong đó là nỗi nhớ nhung của một kẻ đa tình và si tình đối với người đã gây ra cho anh ta căn bệnh tương tư vô phương cứu chữa. Tương tư được viết bằng thể thơ lục bát. Nhà thơ đã vận dụng nhuần nhuyễn các chất liệu của thơ ca dân gian để đưa đến cho tác phẩm một phong vị truyền thống đậm đà. Tuy nhiên, trong bài thơ, chất dân gian vẫn không lấn át được những tình điệu lãng mạn vốn là sản phẩm đặc thù của thời đại Thơ mới.
Nhan đề bài thơ chỉ vẻn vẹn hai chữ Tương tư. Tương tư nghĩa đen là nhớ nhau. Nhưng trong thực tế, hai chữ này thường được dùng để chỉ trạng thái nhớ nhung bất ổn của kẻ mắc phải lưới tình, thế thôi. Ở bài thơ của Nguyễn Bính, kẻ tương tự là một anh con trai nhà quê. Nhà thơ đã nhập thân vào anh để diễn tả sâu sắc nỗi bồn chồn mong nhớ khiến anh phải khổ sở. Tuy nhiên, ý vị của bài thơ là ở chỗ: trong khi vào vai một kẻ rất khác mình, nhà thơ đã đôi lúc để lộ cách cảm thụ của một kẻ chỉ “nhà quê” ở hình thức bề ngoài. Thêm một bằng chứng cho thấy: “giọng quê mùa” của Nguyễn Bính không hề làm phai nhạt bản chất rất Thơ mới của thơ ông.
Đoạn mở đầu bài thơ như muốn đưa ra một nhận định khái quát về căn bệnh tương tư:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.