Chào mừng bạn đến với Selfomy Hỏi Đáp, hãy Hỏi bài tập hoặc Tham gia ngay
0 phiếu
541 lượt xem
trong Ngữ văn lớp 11 bởi
Vì sao nói Nguyễn Bính là "thi sĩ của đồng quê". Hãy làm rõ câu nói đó trong bài Tương tư

1 Câu trả lời

0 phiếu
Xuhoa13 bởi Thạc sĩ (7.4k điểm)
 
Hay nhất

Nguyễn Bính làm thơ từ rất sớm, khi mới 13 tuổi. Năm 1937 nhận được giải thưởng thơ của Tự lực Văn đoàn với tập Tâm hồn tôi. Nguyễn Bính viết rất nhiều và sống chủ yếu bằng tiền nhuận bút thơ. Ông là một tác gia hàng đầu của phong trào Thơ mới, có công chúng đông đảo và rộng rãi. Ngoài thơ và truyện thơ, ông còn sáng tác kịch thơ và soạn chèo. Ông đã được Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt II (2000). Nguyễn Bính thường được mệnh danh là nhà thơ chân quê hay thi sĩ của đồng quê. Điều ấy quả thực dễ hiểu. Đọc thơ ông, nhiều lúc ta được đắm mình vào những cảnh quê bình dị mà thân thuộc, những cảnh có thể gợi trong ta niềm hoài nhớ về một cái gì thật cảm động, thật thiêng liêng đã làm nên tâm hồn, cốt cách Việt Nam của mình mà mình có lúc xa rời hoặc phủ bạc.

Này là cảnh êm đềm, thanh mát, trong trẻo của một ngày xuân, này là cảnh trăng dãi ánh vàng lên một tổ ấm hạnh phúc: Sáng giăng chia nửa vườn chè / Một gian nho nhỏ đi về có nhau... Này là cảnh nôn nao chờ đợi hội chèo, chờ đợi cơ hội gặp gỡ vào buổi mưa bụi cùng hoa xoan phơi phới giăng tơ. Và đây nữa, cảnh eo một chàng trai ngồi tương tư, hờn trách bạn tình trong tâm tưởng để nỗi bồn chồn lan sang cả cây lá, đượm thấm cả không gian… Còn nhiều lắm những cảnh như thế, đẹp trong vẻ yên bình có khi phi thực, phản chiếu nét thuần phác trong tâm hồn một kẻ dù gặp nhiều bất hạnh bởi cuộc dan díu với kinh thành vẫn muốn giữ nguyên quê mùa. Nhưng muốn là một chuyện, còn thực tế cuộc đời đâu dễ chiều người, huống chi người ấy lắm lúc đã “tặc lưỡi buông thả minh theo cái xô bồ của đô thị”. Không có gì lạ khi ta thấy Nguyễn Bính còn rất hay viết về những cuộc tình oan trái, dở dang, những chuyến giang hồ vặt, lấy chất liệu từ chính bản thân mình. Giọng thơ có khi não nề, sướt mướt, có khi bi phẫn:

Ta đi nhưng biết về đâu chứ?

Đã dấy phong yên khắp bốn trời. 

Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,

Uống say mà gọi thế nhân ơi!

Đọc những câu thơ ấy, độc giả nhận ra bi kịch của một thi sĩ hiện đại đặc thù trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa, nhận ra những hoang mang, thao thức, ân hận, sám hối đang diễn ra trong tâm hồn họ và thêm trân trọng những vần thường được gọi là chân quê. Đâu phải đơn giản nhà thơ thấy thế thì tả thế. Cái chân quê của Nguyễn Bính, nói cho cùng, là cái chân quê của một nhà Thơ mới với toàn bộ những mâu thuẫn phức tạp của anh ta, không thể giống hoàn toàn (và thực ra cũng không nên giống) với cái chân quê của ca dao. Nếu giống Nguyễn Bính đâu còn cái gì là đặc sắc, để được yêu, được nhớ, như ông đã từng được nhớ, được yêu?

Bài thơ Tương tư được in vào tập Lỡ bước sang ngang (1940) là một trong những tác phẩm nổi bật nhất của Nguyễn Bính trước Cách mạng. Những nét đặc sắc trong phong cách thơ Nguyễn Bính gần như đều được thể hiện ở đây. Bài thơ là một minh chứng cho tài làm thơ lục bát của người thi sĩ tỉnh Nam, đã thể hiện được sự “giao duyên” đẹp đẽ giữa hồn dân giã với hồn thơ mới. Ta không thấy ở đây tật kể lể dài dòng và lắm khi dễ dãi vốn tồn tại trong khá nhiều bài thơ của Nguyễn Bính. Không phải ngẫu nhiên mà bài thơ vừa được độc giả đại chúng đón nhận lại vừa được lớp độc giả khó tính, sành sỏi văn chương yêu mến và đánh giá cao. Qua đó, Tương tư trở thành một trong những bài thơ được đánh giá cao nhất của Nguyễn Bính trước Cách mạng. Nó cũng thường được xếp vào loại những tác phẩm hàng đầu của phong trào Thơ mới 1932 - 1945.

Tương tư có một nội dung bình dị, dễ cảm. Cảm xúc được phô bày trong đó là nỗi nhớ nhung của một kẻ đa tình và si tình đối với người đã gây ra cho anh ta căn bệnh tương tư vô phương cứu chữa. Tương tư được viết bằng thể thơ lục bát. Nhà thơ đã vận dụng nhuần nhuyễn các chất liệu của thơ ca dân gian để đưa đến cho tác phẩm một phong vị truyền thống đậm đà. Tuy nhiên, trong bài thơ, chất dân gian vẫn không lấn át được những tình điệu lãng mạn vốn là sản phẩm đặc thù của thời đại Thơ mới.

Nhan đề bài thơ chỉ vẻn vẹn hai chữ Tương tư. Tương tư nghĩa đen là nhớ nhau. Nhưng trong thực tế, hai chữ này thường được dùng để chỉ trạng thái nhớ nhung bất ổn của kẻ mắc phải lưới tình, thế thôi. Ở bài thơ của Nguyễn Bính, kẻ tương tự là một anh con trai nhà quê. Nhà thơ đã nhập thân vào anh để diễn tả sâu sắc nỗi bồn chồn mong nhớ khiến anh phải khổ sở. Tuy nhiên, ý vị của bài thơ là ở chỗ: trong khi vào vai một kẻ rất khác mình, nhà thơ đã đôi lúc để lộ cách cảm thụ của một kẻ chỉ “nhà quê” ở hình thức bề ngoài. Thêm một bằng chứng cho thấy: “giọng quê mùa” của Nguyễn Bính không hề làm phai nhạt bản chất rất Thơ mới của thơ ông.

Đoạn mở đầu bài thơ như muốn đưa ra một nhận định khái quát về căn bệnh tương tư:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Nắng mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Xuhoa13 bởi Thạc sĩ (7.4k điểm)
Nói tương tư là nói đến nhớ, không phải nhớ ít mà là nhớ nhiều, rất nhiều. Nó đi tới mức chín nhớ mười mong khó bề làm lắng dịu, khuây khoả. Vì sao mà tương tư? Tất cả chỉ bởi một chữ yêu: Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Không yêu thì không mắc bệnh này và ngược lại. Có thể nói chỉ bằng vài ba nét gợi, Nguyễn Bính đã đụng đến thực chất của cái trạng thái cảm xúc được gọi là tương tư - một trạng thái cảm xúc đã khiến bao người phải tốn công tìm hiểu và giải thích ngay từ thời thượng cổ.
Cái hay của đoạn thơ không chỉ dừng ở ý tứ mà còn ở cách nói. Nói anh nhớ em không thể gợi ra được cảnh sắc thôn làng như nói Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Tác giả đã khéo chọn mấy chữ thôn Đoài, thôn Đông đưa vào lời chàng trai đề người đọc có ấn tượng rõ rệt rằng chàng trai là một kẻ quê mùa chất phác, đang sống ở một thôn Đoài nào đó đằng sau luỹ tre xanh. Dĩ nhiên trên thực tế không phải là thôn này nhớ thôn kia mà chính là người nhớ người. Để cho chàng trai dùng lối tỏ bày cảm xúc như thế, tác giả một mặt đã làm nổi bật được đặc tính kín đáo, ý nhị trong tình yêu của người bình dân, mặt khác đã gợi mối liên tưởng về sự truyền lan của nỗi nhớ từ người sang cảnh vật. Từ chỗ hai người nhớ nhau, thôn Đoài, thôn Đông cũng đâm ra phải lòng nhau không cưỡng được!
Sau dòng thơ đầu có lối nói vòng vèo, xa xôi, đến dòng thứ hai, hình ảnh kẻ tương tự hiện rõ hơn một chút, dù anh ta còn muốn ẩn mình sau hai chữ một người đầy màu sắc phiếm chỉ. Tuy nhiên, mặt giấu mà tình không giấu, và cái tình ấy cứ cồn lên trong mười mong chín nhớ, khắc khoải, bất an, vừa đẩy hai người ra hai cõi cách biệt lại vừa kéo họ lại gần nhau trong tưởng tượng, mơ mộng. Phải nói rằng ở dòng thơ thứ hai này, nghệ thuật thơ của Nguyễn Bính đã đạt tới mức vi diệu. Việc xếp đặt vị trí hai chữ một người trong câu thơ hết sức đắc địa, khiến độc giả như hình dung thấy trước mắt hình ảnh của hai người bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia vô cùng gợi cảm. Có lẽ cái tài tình của Tản Đà trước đó trong việc bố trí chỗ đứng cho hai chữ non, nước ở bài thơ ở bài thơ Thề non nước cũng chỉ đạt đến mức ấy là cùng!
Nếu hai dòng đầu của bài thơ có vẻ mộc mạc và giống ca dao bao nhiêu thì hai dòng tiếp đó lại “Thơ mới” và “tân thời” bấy nhiêu. Đọc chúng, ta khó nghĩ rằng đây thuần tuý là lời của chàng trai thôn Đoài. Sự thực trong đó đã có len vào thử giọng đậm chất thị thành của con người thời  u hoá với đặc điểm là dám gọi đích danh sự vật, dám chường cái tôi của mình ra ngay ở bình diện thứ nhất. Quả thật hiếm gặp trong ca dao một lời giãi bày táo bạo và trần trụi đến dường ấy, dù trong đời thực, người bình dân xưa không phải không biết yêu mãnh liệt (nếu có, nó cũng phải mượn giọng bông đùa để dễ đẩy tới điều nghiêm túc muốn nói). Điều đáng chú ý khác là tác giả đã khéo quy đồng bệnh của giời với bệnh của tôi yêu nàng, giúp ta nhận thức được sâu sắc rằng đa tình là thuộc tính tiền định của con người cá nhân trong thời đại mà tác giả sống. Thật giản dị biết bao cái việc tôi yêu, tôi nhớ. Nó có khác gì cái việc trời làm gió, làm mưa muôn thuở!
Trong những câu thuộc đoạn giữa của bài thơ, giọng điệu “thuần quê” đã trở lại. Có thể nói tác giả đã hoá thân một cách triệt để vào nhân vật chàng trai thôn Đoài để dựng lại cực kì sinh động “nội dung” của nỗi tương tư cùng những uẩn khúc lạ lùng của nó: có trách móc bắt lí bắt lẽ; có dỗi hờn, ngờ vực; có cồn cào đợi trông cơ hội gặp gỡ...
Thoạt đầu, chàng trai thôn Đoài nêu lên một hiện tượng mà anh ta cho là vô lí nhằm làm chỗ dựa cho lời trách móc đối với người mình yêu:
Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Từ “cớ sao” thể hiện giọng điệu căn vặn - căn vặn sao em chẳng sang trong khi hai thôn đã chung lại bên nhau trong một làng? Thoạt nghe, ta thấy lời trách của chàng trai thật có lí, nhưng ngẫm lại thì thấy nó đầy tính chất nguỵ biện: chuyện của hai thôn vốn thuộc lĩnh vực hành chính, làm sao đồng nhất nó với chuyện tình yêu vốn thuộc lĩnh vực của trái tim được? Giữa chúng chẳng có mối liên hệ tất yếu nào, nếu cứ dựa vào đó mà trách thì tránh sao cho khỏi hồ đồ? Tuy nhiên, những điều vừa nói đều chỉ tuân theo cái lí của người ngoài cuộc, còn đối với người trong cuộc như chàng trai nọ, anh đâu có suy nghĩ khúc chiết, rành mạch và lôgíc đến thế. Lúc này, trái tim anh cứ xui anh tìm cớ mà đổ tội cho bạn tình, cớ gì cũng được, nếu có cái gì đó trái khoáy thì trái tim sẽ lên tiếng biện hộ, bào chữa giùm!
Trong hai dòng tiếp theo, ta đọc thấy rất rõ nỗi sốt ruột của chàng trai khi ngồi đếm từng ngày trôi qua không có gì hứa hẹn:
Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng
Hết qua rồi lại qua, tất cả vẫn không có gì khác ngoài cái ngày vô vị ấy. Nó càng vô vị bao nhiêu lại càng làm cho chàng trai khổ sở bấy nhiêu. Thời gian lúc này sao mà đáng ghét, nó cứ lầm lì trôi, nhuộm vàng cả lá xanh, bắt con mắt phải chứng kiến để lòng chàng trai thêm khắc khoải, bồn chồn. Từ nhuộm được tác giả dùng ở đây rất đạt. Nó vừa xác nhận dấu ấn rõ rệt của thời gian in trên cây lá vừa khắc hoạ được thật tài tình tâm trạng nặng nề của kẻ tương tự khi không có cách gì tránh được sự nhắc nhở thường xuyên của thời gian. Nếu tác giả viết “Lá xanh giờ đã thành cây lá vàng” hoặc “Lá xanh đã nhuộm thành cây lá vàng”, hẳn tâm trạng nặng nề của chàng trai sẽ không được tô đậm đến mức như vậy.
Sau sự sốt ruột là nỗi ngờ vực, lo lắng, băn khoăn. Nếu ở đoạn trên, câu hỏi chỉ nằm gọn trong hai dòng lục bát thì ở đoạn tiếp, câu hỏi đã dài ra, chiếm trọn cả bốn dòng:
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
Phải nói rằng sự tra vấn bạn tình ở đây có tính chất trực diện và bức bách hơn ở đoạn thơ trước. Kết cấu câu “Bảo rằng... đã đành”, “nhưng…” nghe đầy lí lẽ và mấy chữ “cách một đầu đình” nghe đầy sắc thái khẳng định. Tất cả các yếu tố ngôn ngữ này cùng lúc phản ánh nỗi ngờ vực đang lên tới đỉnh điểm của chàng trai - nỗi ngờ vực đã khiến anh biến cái tưởng tượng thành cái thực để rồi hạ lời quy kết có thể rất vội vàng cho người mình yêu, rằng: tình của nàng đã xa xôi (nghĩa là đã nhạt phai). Nhưng trớ trêu làm sao, những lời ta gọi là tra vấn ấy không gửi tới được đối tượng, mà chỉ tồn tại trong tâm tưởng, chính vì vậy, chúng càng làm cho chàng trai không gỡ nổi mình ra khỏi những dây nhợ của nỗi tương tư.
Xuhoa13 bởi Thạc sĩ (7.4k điểm)
Tưởng rằng được trách móc cho hả dạ, ai ngờ lại tự mình chuốc khổ lấy cho mình. Lí lẽ của trái tim quả thực đã làm phiền cho đời sống tình cảm của con người biết mấy! Giá như chàng trai tỉnh táo hơn để thấy rằng vấn đề không nằm ở chỗ cô gái đã yêu và đã thưa thớt lòng mà nằm chính ở chỗ cô gái chắc gì đã biết về tình cảm của chàng, chắc gì đã yêu chàng thì nỗi ngờ vực của chàng sẽ được giải toả ngay. Nhưng đã hiểu được như thế thì e chừng lòng yêu và nỗi tương tư cũng hết. Hết khổ cũng có nghĩa là hết yêu, và đã hết yêu thì không còn chuyện gì để nói nữa. Lúc này, ngay cả bài thơ cũng không còn cớ mà tồn tại! Trên thực tế, chàng trai đã tương tư, và đã tương tư thì mọi sự cứ theo đó mà rắc rối thêm mãi...
Từ chỗ trách móc đối tượng, chàng trai thôn Đoài đi đến chỗ thương mình, thấy mình có chút gì như là bất hạnh:
Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?
Càng tự nhìn vào nông nỗi của mình, thấy mình khổ qua bao đêm trăn trọc, chàng trai càng thấy cần biết bao một sự quan tâm, thấu hiểu từ phía kia. Ba chữ biết cho ai được láy lại với một chút thay đổi trật tự nghe vừa bâng quơ, vừa da diết. Tất cả cứ mông lung, mập mờ chẳng biết khi nào mới chấm dứt. Từ đây, chàng trai chìm vào một nỗi đợi chờ phấp phỏng:
Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
Trong hai dòng thơ trên có hai hình tượng cặp đôi là bến - đò và hoa khuê các - bướm giang hồ. Trước, đó là hình tượng cặp đôi quen thuộc của thơ ca dân gian và sau đó là hình tượng cặp đôi mang đầy ý vị Thơ mới hoặc in đậm chất thị thành. Sự pha trộn thiếu thuần nhất trong giọng điệu ở đây chứng tỏ khi làm bài the Tương tư, Nguyễn Bính vừa muốn đóng vai người của một thời đã qua lại vừa muốn để lộ chân diện mục của kẻ đang sống trong thời đại mới. Chính điều này đã tạo nên cái duyên riêng của bài thơ, khiến nó không bị lẫn vào muôn nghìn câu huê tình truyền thống đồng thời cũng phân biệt rất rõ với thơ đương thời bằng một phong vị lạ. Người đọc cảm nhận phía sau chữ bao giờ đầy mơ hồ, khắc khoải là một niềm tin - cái niềm tin vẫn tiềm tàng trong lòng những người sống bình dị đằng sau luỹ tre xanh: dù hiện tại có thể phân li nhưng dứt khoát đò sẽ gặp bến, bướm sẽ gặp hoa, không thể khác được. Cũng từ điều này, chúng ta thấy cái tinh thần, lối sống của con người Việt Nam được thể hiện quả là đậm đà trong thơ Nguyễn Bính.
Bốn dòng thơ cuối của bài được viết tách ra thành một khổ:
Nhà em có một giàn trầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?
Sau những cảm xúc cồn cào bật lên thành hàng loạt lời trách móc, nhân vật trữ tình như ngồi lặng đi trong niềm mơ tưởng, trong hi vọng. Giọng thơ lúc này trở nên xa vắng, bâng khuâng. Câu hỏi gợn lên không còn mang vẻ căn vặn, dỗi hờn. Tất cả những điều này tiếp tục phản ánh một trạng thái, một cung bậc khác nữa của bệnh tương tư vốn đã được miêu tả rất sinh động ở các câu thơ trước.
Suốt cả đoạn thơ trên, chỉ trừ lúc nói tôi yêu nàng (để nhằm công khai với thiên hạ), hầu như chàng trai chỉ nhắc tới người đã gây bệnh tương tự cho mình bằng những từ bóng gió, mang đầy màu sắc phiếm chỉ: một người, bên ấy, ai. Đến đây, anh thấy đã đến lúc cần gọi thẳng ra bằng một chữ em (nhà em) mang tính xác định rõ rệt. Đúng là chàng trai không thể nói khác khi ước muốn chung đôi cảm của mình vào điểm chót. phải công khai, phải “xã hội hoá” câu chuyện tình Un Hình ảnh trầu cau xuất hiện có tác dụng tô đậm mong muốn được kết duyên. Trong bài ca dao Tát nước đầu đình, chỗ đi đến cao nhất cũng là điều đó. Ngữ liệu của văn học dân gian đã được vận dụng hết sức thoả đáng, chính nó đã làm tăng thêm giọng quê đằm thắm cho tác phẩm cũng như đã phản ánh đúng quy luật phát triển tình yêu ở người bình dân.
Để tạo nên cái lí vững chắc cho niềm mong ước được thành đôi, thành lứa, tác giả đã tổ chức đoạn thơ thành các vế song song, liên kết với nhau chặt chẽ. Nếu ở trên là Nhà em có một giàn giầu thì ở dưới là Nhà anh có một hàng cau liên phòng. Câu thơ lục bát này như muốn nói: tiền đề của sự giao kết đã ngầm chứa sẵn trong thực tế khách quan. Nếu cau hay trầu chỉ trơ trọi một mình thì chúng sẽ mất hết ý nghĩa và giá trị. Dứt khoát chúng phải tìm đến với nhau. Ngoài tiền đề khách quan đã nêu, tiền đề chủ quan cũng đã có. Sự mong nhớ của chàng trai được giãi bày trong suốt bài thơ chẳng phải là một chứng cớ xác thực của điều này hay sao? Tất cả hầu như đã sẵn sàng, chỉ chờ một điều kiện nữa thôi, mà điều kiện đó thì nằm cả ở em. Bài thơ kết thúc bằng một câu hỏi lơ lửng: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? Tuy lời đáp chưa xuất hiện nhưng ta vẫn hình dung thấy trước một kết cục tràn đầy hi vọng: cau thôn Đoài không nhớ, không làm bạn với giầu không thôn Đông thì còn nhớ, còn làm bạn với cái gì, với ai được nữa! Đọc câu thơ kết, độc giả tinh ý sẽ nhận ra một cái “lỗi” lôgíc trong “lập luận” của chàng trai (hay là nhà thơ): nếu vế trên đã là Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông thì lẽ ra vế dưới phải là Trầu không thôn Đông nhớ cau thôn nào chứ! Nhưng thôi kệ, nếu lôgíc thế thì việc gieo vần và giữ nhịp làm sao mà đảm bảo được. Vả chăng, mọi thứ đều là hư cấu cả. Thôn Đông thôn Đoài chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, ra đời từ nỗi tương tư của chàng trai, chúng không hề đông cứng lại thành những miền xác định, và do vậy, chúng có thể hoán chuyển vị trí cho nhau. Lại nữa, nếu đây là lời chàng trai thật thì cũng nên thông cảm. Đang tương tư, có bao giờ người a sáng suốt được hoàn toàn đâu! - Không biết tự bao giờ, kiểu ngụy biện của tình yêu bỗng ám vào ta, khiến cho hành động phân tích không còn giữ được tính khách quan khoa học nữa. Cái gọi là sự “chiếm lĩnh tâm hồn người đọc” của thơ là ở đó chăng?
Tương tư là một bài thơ thể hiện rất rõ những đặc điểm phong cách thơ Nguyễn Bính. Đó là chất “quê mùa” đậm đà với giọng kể lể, với những chất liệu văn hoá, văn học dân gian được vận dụng rất nhuần nhuyễn. Bên cạnh đó, những tình ý lãng mạn sản phẩm của thời đại Thơ mới cũng để lại dấu vết không phải là khó thấy. Dù sao, Tương tư vẫn là một bài Thơ mới đích thực, dù đọc nó lên, độc giả dễ tưởng bắt gặp tiếng nói từ một thuở rất xa nào đó vọng về.

Các câu hỏi liên quan

0 phiếu
1 trả lời 586 lượt xem
đã hỏi 9 tháng 3, 2024 trong Khác bởi dogdogdog234432289 Học sinh (69 điểm)
+1 thích
4 câu trả lời 1.4k lượt xem
có người cho rằng,thực hiện nếp sống kỉ luật làm con người mất tự do,em có đồng ý với ý kiến đó không?Vì sao?Bằng sự hiểu biết của mình,em hãy làm rõ việc đồng ý hay ko đồng với ý kiến trên(nêu 6 ý )
đã hỏi 22 tháng 10, 2016 trong GD Công dân lớp 6 bởi yabish Cử nhân (3.9k điểm)
0 phiếu
0 câu trả lời 495 lượt xem
+1 thích
1 trả lời 172 lượt xem
0 phiếu
1 trả lời 183 lượt xem
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có câu hát: “Sống trên đời cần có một tấm lòng”. Hãy viết một bài nghị luận (trừ thơ) để làm rõ tầm quan trọng của tấm lòng trong cuộc đời.
đã hỏi 30 tháng 4, 2020 trong Ngữ văn lớp 11 bởi Phamthunhien Tiến sĩ (20.5k điểm)
0 phiếu
0 câu trả lời 463 lượt xem
Giáo sư NGUYỄN ĐĂNG MẠNH từng nhận xét:"Thơ không cần nhiều từ ngữ. Nó cũng không quan tâm đến hình xác của sự sống.Nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi 1 chút linh hồn cùa cảnh vật thông qua linh hồn thi sỹ" Bạn có suy nghĩ gì về câu nói đó và hãy làm sáng tỏ thông qua những tác phẩm thơ đã học.
đã hỏi 26 tháng 4, 2020 trong Ngữ văn lớp 11 bởi Phamthunhien Tiến sĩ (20.5k điểm)
–1 thích
0 câu trả lời 398 lượt xem
"Thơ Chế Lan Viên có phong cách rõ nét và độc đáo, nổi bật nhất là chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của thế giới hình ảnh". Hãy làm rõ nhận định trên qua bài thơ "Tiếng hát con tàu".
đã hỏi 14 tháng 4, 2020 trong Ngữ văn lớp 11 bởi Phamthunhien Tiến sĩ (20.5k điểm)
0 phiếu
1 trả lời 1.2k lượt xem
Tưởng chừng giữa "Tràng giang" , con người sẽ cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo, nhưng càng đọc kĩ bài thơ, người đọc càng cảm thấy ấm lòng bởi 1 tình quê tha thiết, đáng trân trọng. Anh/ chị hãy phân tích bài thơ " Tràng giang " của Huy Cận để làm rõ nhận định trên.
đã hỏi 23 tháng 2, 2018 trong Ngữ văn lớp 11 bởi Trần Nguyễn
0 phiếu
1 trả lời 699 lượt xem
A. Làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. B. Làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, Hà Nam. C. Làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, Nam Định. D. Làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
đã hỏi 15 tháng 12, 2021 trong Ngữ văn lớp 11 bởi PTG Tiến sĩ (22.7k điểm)
0 phiếu
1 trả lời 1.3k lượt xem
Phân tích 16 câu thơ giữa bài "Vội vàng" để làm rõ cảm nhận độc đáo của Xuân Diệu về thời gian. 
đã hỏi 25 tháng 4, 2022 trong Ngữ văn lớp 11 bởi Khách

HOT 1 giờ qua

  1. trannhat900trannhat900

    52948 Điểm

  2. phamngoctienpy1987844phamngoctienpy1987844

    50728 Điểm

  3. vxh2k9850vxh2k9850

    35980 Điểm

  4. Nqoc_bakaNqoc_baka

    34614 Điểm

Phần thưởng hằng tháng
Hạng 1: 200.000 đồng
Hạng 2: 100.000 đồng
Hạng 3: 50.000 đồng
Hạng 4: 20.000 đồng
Phần thưởng bao gồm: mã giảm giá Shopee, Nhà Sách Phương Nam, thẻ cào cùng nhiều phần quà hấp dẫn khác sẽ dành cho những bạn tích cực nhất của tháng. Xem tại đây
Bảng xếp hạng cập nhật 30 phút một lần
...