Trên thực tế, “Bát trận đồ” không phải là phát minh độc quyền của Gia Cát Lượng. Từ thời cổ đại, người ta đã biết bày binh bố trận theo trận đồ và gọi đó là “Bát trận”. Tuy nhiên, Gia Cát Khổng Minh chính là người đưa “Bát trận đồ” lên tầm huyền thoại, diễn hóa đầy đủ tinh hoa trong nghệ thuật dụng binh của mình vào trận pháp này.
Do tư liệu lịch sử đã tản mát nhiều nên hiện nay người ta không thể nghiên cứu kỹ về “Bát trận đồ”. Tuy vậy, “Bát trận đồ” của Khổng Minh biến hóa khôn lường, không thời nào không giành được lời khen tặng. La Quán Trung trong “Tam Quốc diễn nghĩa” khen “Bát trận đồ” rằng: “Thường hữu khí như vân, từng nội nhi khởi”, nghĩa là: Có khí như mây, sức mạnh phát ra từ bên trong. Trên bia đá ở Thành Đô (nước Thục cũ) lại có câu: “Giang thượng trận đồ do bố liệt. Thục trung tương nghiệp hữu huy quang”, tạm dịch là: Trên sông trận đồ vẫn còn dấu tích. Cơ đồ nước Thục muôn đời sáng ánh vinh quang.
Các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự cho rằng, uy lực của “Bát trận đồ” chính là bố cục theo phương hướng, biến hóa khôn lường, khi tách, khi hợp. Hình thế của trận này dựa trên nguyên lý “Bát quái” với 8 cửa: Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Ảnh, Tử, Cảnh, Khai. Các cửa Sinh, Cảnh, Khai được gọi là “cửa cát” (cửa tốt), còn lại Hưu, Thương, Đỗ, Tử, Ảnh chính là “cửa hung” (cửa xấu).
Trong một trận đồ điển hình, toàn trận có thể huy động 14 ngàn kỵ binh, cứ 50 người thành 1 đội hình, tất cả gồm 280 đội. Bộ binh có 10 ngàn người, chia đều thành 200 đội. Mỗi một đội bộ binh chiếm 10 thước trong trận đồ. Tùy theo tình hình cụ thể, “Bát trận đồ” có thể biến hóa khôn lường, làm quân địch mất phương hướng.
Ngoài ra, ở bên trong “Bát trận đồ” người ta còn có thể bố trí các loại vật liệu đặc biệt như đá, xe lương thực tạo chướng ngại vật, ngăn cản kỵ binh địch tấn công. Sau khi địch lọt vào trận, quân sĩ bên trong sẽ dùng cung, tên, mâu, kích để đả thương, tấn công địch. Trận đồ này là cơn ác mộng với các đội quân kỵ binh trang bị nhẹ.