Thác Sông Đà mở ra "năm của trận", có bốn "cửa tử", một "cửa sinh" nằm "lập lờ ở phía tả ngạn". Không một chút nao núng, ông đò hai tay giữ mái chèo để khỏi bị hất lên khi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Sóng nước thì như thể quân liều mạng, có lúc chúng "đội cả thuyền lên". Và bằng phương pháp so sánh với những hình ảnh rất táo bạo, khơi gợi lạ lùng, tác giả đã tả sông Đà thiên biến vạn hóa, mỗi chỗ như có một bẫy nguy hiểm riêng, đòi hỏi người lái đò phải có một cách ứng phó riêng. Có chỗ thì nước sông “reo lên như đun sôi mậi trăm độ muốn hất tung đà một cái thuyền đang phải đón? vào một cái nắp ấm nước đang sôi khổng lồ”. “Có luồng nước đi lầm vào thì chết ngay”. Lại có những “cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi”. Thế nhưng, “ông lái đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cái cuông lái…” Mặc dù mặt “méo bệch đi” vì những đòn hiểm, “nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái”. Không một chút nghỉ tay, ông lái đò tiếp tục phá luôn vòng vây thứ hai của thác Sông Đà khi đã "thuộc qui luật phục kích" của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Ông hiểu rằng cưỡi lên thác Sông Đà là phải "cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ". Nắm chặt cái bờm sóng đúng luồng, ông đò ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà "phóng nhanh vào cửa sinh" rồi "lái miết một đường chéo" về phía cửa đá mà "rảo bơi chèo lên", "đè sấn lên mà chặt đôi ra" để mở đường tiến. Đến vòng thứ 3, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã từ thế thủ chuyển sang thế tấn công: thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, người lái đò chỉ có một cán chèo, một con thuyền không có đường lùi còn dòng sông dường như mang sức mạnh siêu nhiên của loài thuỷ quái. Chung quy lại, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Vì thế qua đoạn miêu tả ông lái đò vượt qua con thác dữ có thể thấy: chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ có nơi chiến trường mà nó có ngay trong cuộc sống của nhân dân ta: hàng ngày phải vật lộn với thiên nhiên vì miếng cơm manh áo; và trí dũng tài ba không phải tìm ở đâu, mà ở ngay cả người dân lao động bình thường kia.
Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa bình thản đón nhận những rung động của đời sống thường nhật, coi việc hàng ngày đối diện với sự hung bạo, với cái chết cận kề là chuyện thường tình không có gì đáng nói. Thật đẹp biết bao hình ảnh người lái đò sau những phút giây chiến đấu sống còn với sóng thác sông Đà đầy hung bạo, lại ung dung " đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá dầm xanh, anh vũ... Chẳng ai bàn tán thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải, trước đủ tướng dữ, quân tợn vừa rồi". Nhưng thật ra, cuộc đời của ông lái dò vô danh nơi ngọn thác hoang vu khuất nẻo kia là cả một thiên anh hùng ca, là cả một pho nghệ thuật tuyệt vời. Vì thế, vết bầm trên vai ông do cán chèo đè lên mà có được Nguyễn Tuân ca ngợi là thứ huân chương siêu hạng. Bởi thế, người đã miêu tả cái phong thái tâm hồn của ông lái đò theo phong cách của người nghệ sĩ, việc vượt qua những con thác dữ là chuyện thường nhật, không có gì đáng nói, và cũng có khi như “cái thú bình sinh” của phong thái Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”.
Đằng sau nghệ thuật viết tùy bút bậc thầy là vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ và thơ mộng của Đà giang cùng hình tượng người lái đò sông Đà. Khi thiên nhiên đã được nâng lên đến mức thần thánh qua ngôn ngữ sống động, tổng hợp trên nhiều vốn tri thức, vốn văn hóa về nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, từ hội họa, điển ảnh đến quân sự như thách thức con người thì ông lái đò chính là người chinh phục thiên nhiên thần thánh ấy. Khác hẳn với những nhân vật trước cách mạng của Nguyễn Tuân, ông lái đò vẫn xuất hiện với tư cách là con người tài hoa, tài tử nhưng không còn là con người của quá khứ, đối lập với thực tại nữa mà ông lái là con người của hiện tại, đấu tranh với thiên nhiên, núi rừng để sinh tồn
Trong xây dựng nhân vật ông lái đò qua tác phẩm Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân chú ý khắc họa nét tài hoa của nghệ sĩ "nhân vật phải là người nghệ sĩ trong nghề nghiệp". Từ đó ca ngợi sự gan góc, thông minh, dũng cảm, kiên cường, tài hoa nhân hậu của con người Việt Nam trong công cuộc lao động xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao. Người lái đò sông Đà thật sự là một bài ca lãng mạn, trong sáng, hào sảng về lao động và về vẻ đẹp của con người trong lao động. Song luận gì về Nguyễn Tuân cũng chớ quên văn ông không chỉ là tòa lâu đài chữ nghĩa hay là bể thẳm tâm hồn không những đẹp về mặt ngôn từ, mà còn có giá trị nghệ thuật rất đặc sắc mà hậu thế phải công nhận.