Câu thơ bảy chữ mà có đến sự phối hợp dày đặc của năm thanh trắc gồ ghề được đặt ở đầu, giữa và cuối câu tạo nên ấn tượng không dứt về những con dốc đèo Tây Bắc. . Cách ngắt nhịp 4/3 và điệp từ "dốc" được lặp lại hai lần trong một câu thơ kết hợp tính từ đặc tả "khúc khuỷu", "thăm thẳm" có tác dụng gợi sự trùng điệp, nối tiếp như tới vô tận của những dốc những đèo, và sự gập ghềnh của con đường hành quân. Từ đó tạo nên cảm giác như con dốc này chưa qua hết, con dốc khác đã hiện ra sâu hun hút không có điểm dừng.
Song, dù thiên nhiên có khắc nghiệt đến đâu, chặng đường có gian khổ cách mấy thì người lính Tây Bắc vẫn hiên ngang, oai dũng vô cùng qua hình ảnh:
“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”
Giữa cái xa xôi, hiu hắt của độ cao được nhấn mạnh qua đảo ngữ “heo hút”, nơi nguy hiểm chồng chất dựng lên thành dốc, thành cồn, người lính đứng đó, mái đầu và đầu súng như chạm vào mây trời, ngang tàng và khí phách. Bằng cách nhân hóa “súng ngửi trời” và từ cái cảm nhận có thực của thị giác, Quang Dũng vừa tả được độ cao của núi, của dốc nhưng vẫn cho thấy tâm hồn trẻ trung của những người lính phong trần coi thường gian lao, vất vả. Và chỉ một từ “ngửi” đã nói lên được cái ngông, cái ngang tàng của người lính trẻ ấy khi họ vượt dốc, băng đường, chỉ để “ngửi” xem trời như thế nào mà thôi. Qủa là giữa vô vàn khó khăn, khắc nghiệt, sự dũng cảm, bản lĩnh của người lính đã vượt lên hoàn cảnh để thể hiện tư thế hiên ngang, làm chủ đất trời: “Núi không đè nổi vai vươn tới/Lá ngụy trang reo với gió đèo” (“Lên Tây Bắc”- Tố Hữu)
Trên độ cao chất ngất đó, các chiến sĩ phải thật dũng cảm, tự tin để đi tiếp chặng đường còn lại khi :
“Ngàn thước lên cao , ngàn thước xuống”.
Điệp ngữ "ngàn thước" là một ước lệ nghệ thuật có tính định lượng, khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ, chênh vênh, kì thú của núi rừng Tây Bắc. Yếu tố tương đồng của điệp ngữ "ngàn thước" và tính chất tương phản của các động từ "lên - xuống" trong hai vế câu đã tạo ra cảm giác về một nét gập đột ngột, dữ dội cho câu thơ. Rõ ràng, bằng tài năng của mình, Quang Dũng đã kết hợp thi với họa để đem đến cho người đọc cảm giác chân thực khi đứng trước một vùng rừng núi trùng điệp, hùng vĩ, chứa đầy hiểm nguy chỉ qua những tiểu đối ấy: bên này đường lên núi dựng đứng, vút cao; bên kia vực đổ xuống hun hút, hiểm trở.
Ngay sau cái trập trùng, hùng vĩ của địa hình Tây Bắc, câu thơ tả mưa miên man trong bảy thanh bằng, cùng với rất nhiều âm tiết mở đã gợi tả một không gian mênh mang, dàn trải, nhạt nhòa trong mưa:
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.
Câu thơ đã gợi lên cái phiêu diêu, chơi vơi, bay bổng nhẹ tênh của không gian rộng mở. Những mỏi mệt đã lùi hết về phía sau, vương lại nơi những khấp khểnh đường đi mà người lính đã vượt qua. Người lính bây giờ chỉ thấy khung cảnh trước mắt trải ra ngút ngàn: những ngôi nhà xa xôi, chìm khuất ẩn hiện trong màn mưa, gợi lên sự bâng khuâng và thoáng thầm lặng trong nỗi nhớ quê nhà.
Và trên chặng đường hành quân ấy thì người lính Tây Tiến không thể tránh được sự thật đã có những người đồng đội:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Khi nói về cuộc chiến tranh khốc liệt ấy, tác giả đã không né tránh hiện thực của những mất mát đau thương trong cuộc chiến mà chấp nhận nó để làm bật lên tinh thần cao thượng của người chiến sĩ. Trong cuộc hành quân gian khổ đã có những người ngã xuống vì kiệt sức, vì mũi súng của kẻ thù. “Không bước nữa” là kiệt sức không thể đi tiếp nữa, “bỏ quên đời” là hi sinh bản thân mình. Cách nói giảm nói tránh vừa xót xa lại vừa ngạo nghễ, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng để bình tĩnh, thản nhiên đón nhận nó. Nhớ những người đồng đội đã ngã xuống nhưng không gợi cảm giác bi luỵ mà nỗi mất mát, niềm cảm thương được nói bằng giọng thơ ngang tang. Hình ảnh gục xuống gợi một cảm xúc rất thiêng liêng bởi họ là những người lính đã sẵn sàng ngã xuống cho Tổ quốc đứng lên, họ là những người sống vì lí tưởng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.