“Có một bài ca không bao giờ quên…”
Cũng có những năm tháng không bao giờ quên, không phai mờ trong kí ức của nhiều thế hệ đã qua, hôm nay và mai sau. Đó chính là những ngày tháng kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, khi sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, hay khi sống dưới mưa bom bão đạn khắc nghiệt của quân đội Mỹ. Trong những năm tháng đáng nhớ ấy, văn học dù chưa dám nói là đã ghi lại trọn vẹn bộ mặt đất nước, nhưng cũng đã khắc họa vĩnh cửu vào lòng người đọc về hình ảnh những người anh hùng đã ngã xuống cho Tổ quốc đứng lên. Nổi bật trong số đó phải kể đến tác phẩm “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu sáng tác vào năm 1948 và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác vào năm 1969. Chính Hữu là một ngòi bút trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, với phong cách thơ (giọng văn) mộc mạc, giản dị. Đặt bút viết “Đồng chí”, ông đã cho ra một bản hùng ca tôn vinh tình đồng chí, đồng đội thắm thiết dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng. Nhắc đến Phạm Tiến Duật là nhắc đến ngòi bút được mài dũa sắc sảo trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, một hồn thơ giàu chất liệu hiện thực, giọng điệu ngang tàn, sôi nổi của trái tim trẻ yêu nước. Hạ bút viết “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – trích tập “Vầng trăng – Quầng lửa” vào giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, nhà thơ đã khắc hoạ nổi bật hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, thái độ bất chấp khó khăn coi thường gian khổ, niềm lạc quan sôi nổi của tuổi trẻ và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam. Tất cả đã được thể hiện qua hai khổ thơ sau:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
(Chính Hữu, Đồng Chí, Ngữ văn 9, tập 1)
“Không có kính, rồi không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xư vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
(Phạm Tiến Duật, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Ngữ văn 9 tập 1)
Trước hết là đoạn thơ đầy tình đồng đội tươi đẹp của Chính Hữu:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
Nhịp thơ đều đều 2/2/2 - 2/2/3 cô đọng tất cả nét đẹp của những người lính. Đó cũng chính là vẻ đẹp ngời sáng trong gian khổ của người lính. Vượt lên trên tất cả, tình đồng đội, đồng chí như được sưởi ấm bằng những trái tim người lính đầy nhiệt huyết, vẫn đứng canh giữ cho bầu trời Việt Nam dù đêm đầy khuya, sương đã xuống, màn đêm cũng chìm vào quên lãng. Hình ảnh người lính bỗng trở nên đẹp hơn, thơ mộng hơn, đứng cạnh bên nhau trong tâm thế sẵn sàng chiến đấu, không nao núng trước một ai. Sá chi đâu lũ giặc ngang tàn kia, chúng càng hung hãn quân ta càng hung hăng. Xen vào cái chân thực của cả bài thơ, câu thơ cuối cùng vẫn trở nên rất nên thơ:
Đầu súng trăng treo Ánh trăng gần như gắn liền với người lính:
Chiến tranh ở rừng
Trăng thành tri kỉ (Ánh trăng - Nguyễn Duy)
Một hình ảnh nên thơ, lãng mạn nhưng cũng đậm chất chân thực, trữ tình. Một sự quyện hòa giữa không gian, thời gian, ánh trăng và người lính. Cái thực đan xen vào cái mộng, cái dũng khí chiến đấu đan xen vào tình yêu làm cho biểu tượng người lính không những chân thực mà còn rực rỡ đến lạ kì. Chất lính hòa vào chất thơ, chất trữ tình hòa vào chất Cách mạng, chất thép hòa vào chất thi ca. Độ rung động và xao xuyến của cả bài thơ có lẽ chỉ nhờ vào hình ảnh ánh trăng này. Tình đồng chí cũng thế, lan tỏa trong không gian, xoa dịu nỗi nhớ, làm vơi đi cái giá lạnh của màn đêm. Trong thơ ca, ánh trăng thường gợi nhớ đến sự hòa bình: “Rừng thu trăng rọi hòa bình” và ở đây có lẽ cũng mang một niềm tin như thế - một niềm tin mãnh liệt về bầu trời không còn mưa bom bão đạn, một đất nước không còn bị đốt cháy bởi khói lửa chiến tranh.