Nguyễn Du không chỉ là danh nhân văn hóa thế giới mà ông còn là đại thi hào dân tộc, một thiên tài văn học của nước nhà. Ông vốn được sinh ra trong một gia đình phong kiến quý tộc nhưng sống trong giai đoạn đồng tiền làm băng hoài đạo đức, đầy biến động, Nguyễn Du chứng kiến được rất nhiều cảnh đời bất công của xã hội bấy giờ, và ông có sự cảm thông sâu sắc đối với thân phận bất hạnh của người phụ nữ. Bởi lẽ đó, ông đã viết nên thi phẩm tuyệt bút “Truyện Kiều”, tác phẩm như tiếng khóc ai oán của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những thối nát, bất công. Nổi bật trong đó là đoạn trích “Chí khí anh hùng” xây dựng mẫu anh hùng lí tưởng trong xã hội phong kiến theo quan niệm của Nguyễn Du: sống có ước mơ, tự do lập nên sự nghiệp lớn. Chính mười bốn câu thơ cuối đã làm bật lên hình tượng anh hùng của Từ Hải khi phải đối diện với người phụ nữ mình yêu thương trước lúc ra đi lập công danh:
“Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.
…
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.”
Khi Thúy Kiều bị đẩy vào lầu xanh lần thứ hai, cuộc đời của nàng tưởng chừng như bế tắc hoàn toàn thì Từ Hải xuất hiện và đưa Kiều thoát khỏi cảnh ô nhục. Hai người gắn bó với nhau trong hạnh phúc và tình tri kỉ: “Trai anh hùng, gái thuyền quyên - Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”. Nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên cạnh nàng Kiều tài sắc. Chàng muốn có sự nghiệp lớn nên sau nửa năm “hương lửa đương nồng” đã từ biệt Kiều ra đi. Trước sự quyết đoán của Từ Hải, Kiều đã một lòng xin được đi cùng phò tá chàng:
“Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.”
Theo lẽ thường tình, cuộc chia tay nào cũng đầy nước mắt, cũng đọng những dùng dằng chẳng nỡ của kẻ ở với người đi. Với Từ và Kiều cũng không phải là ngoại lệ. Kiều không muốn chịu cảnh giường đơn gối chiếc trong căn nhà lạnh lẽo, nàng một mực muốn được sẻ chia, được gánh vác sự nghiệp với Từ Hải. Nàng đã phải dùng đến đạo lý “Phận gái chữ tòng” để thuyết phục chàng. Kiều ý thức được bổn phận của người vợ là phải theo chồng, kề vai sát cánh qua những hiểm nguy cùng chồng, Kiều nguyện gắn bó cả cuộc đời mình với Từ Hải. “Chữ tòng” ở đây không chỉ có nghĩa như trong sách vở thánh hiền của Nho giáo mà còn ngụ ý tiếp sức, chia sẻ nhiệm vụ với chồng. Nhưng có lẽ ẩn sâu trong đó còn một nguyên do. Bão tố cuộc đời vừa đi qua song dư âm vẫn còn lại, Kiều sợ cô đơn, hiu quạnh, sợ những hiểm nguy cạm bẫy nơi đất khách qua người. Đó cũng là tâm lý dễ cảm thông của người phụ nữ vừa phải nếm trải những ô nhục, chua cay của cuộc đời. Qua câu nói của Kiều, ta thấy Nguyễn Du đã thể hiện tâm trạng và tâm lí của Kiều rất hiện thực. Nàng vẫn giữ được vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam: thủy chung, một lòng một dạ theo chồng,…Nàng không chỉ ý thức được bổn phận của người vợ mà còn thể hiện tình yêu, sự thấu hiểu với chồng, sự khâm phục, tôn trọng Từ Hải.
Trước lời xin đi tha thiết của Thúy Kiều, những tưởng Từ Hải sẽ lung lay, bịn rịn, nhưng chàng vẫn kiên quyết từ chối khéo nguyện vọng chính đáng của Kiều:
“Từ rằng tâm phúc tương tri,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?”
Trong lời đáp của mình, Từ Hải đã khéo léo từ chối Kiều bằng một câu hỏi tu từ: “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?”. Mới nghe qua thì cứ nghĩ là một lời trách cứ nhưng đằng sau đó lại là lời động viên người tri kỉ của mình biết vượt lên những tình cảm thông thường để sánh cùng trí lớn của người anh hùng. Từ Hải đã khẳng định rõ ràng tình cảm to lớn với Kiều, coi Kiều là tri kỉ hiểu rõ chí làm trai đang sôi sục trong lòng mình hơn ai hết. Vậy nên, Kiều phải thoát khỏi phận “nữ nhi thường tình”, thể hiện sự cứng cỏi của phu nhân bậc anh hùng. Từ cũng có ý khuyên Kiều đừng xem nặng quá vấn đề “lấy chồng là phải theo chồng”, hãy xem nhẹ chuyện tình cảm vì sự nghiệp lớn lao của chồng.
Để trấn an Kiều, TH hứa với K về một tương lai huy hoàng, một ngày xum vầy, hạnh phúc trong công danh sự nghiệp rõ ràng:
“Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia”