* Dân tộc Việt Nam: Theo Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02 tháng 3 năm 1979, Việt Nam có 54 dân tọco và 1 nhóm "người nước ngoài" bao gồm:
- Nhóm Việt - Mường (Ngữ hệ Nam Á - Vietic): Kinh, Chứt, Mường, Thổ
- Nhóm Tày - Thái (Tai–Kadai): Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái
- Nhóm Kadai (Kra): Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo
- Nhóm Môn – Khmer (Ngữ hệ Nam Á - Austroasiatic): Ba Na, Brâu, Bru - Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, Mảng, M’Nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, X’Tiêng
- Nhóm Nam Đảo (Malayo-Polynesia): Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai
- Nhóm Hán (Sinitic): Hoa, Ngái, Sán Ngái, Sán Dìu
- Nhóm Tạng-Miến (Tibet-Burma): Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Hù Lá, Si La
- Nhóm người không xác định
- Nhóm người nước ngoài
* Nét văn hóa của các dân tộc thể hiện ở: ngôn ngữ, trang phục, quần cư, phong tục, tập quán…
Ví dụ:
- Ngôn ngữ: Tiếng Việt (tiếng phổ thông của người Kinh), tiếng Tày (dân tộc Tày), tiếng Thái (dân tộc Thái), tiếng Khơme (dân tộc Khơme)….
- Trang phục: người Kinh có áo dài và nón lá; người HơMông có váy xòe thổ cẩm, con trai dân tộc Êđê đóng khố…
- Tục cưới hỏi: người Kinh - có lễ dặm ngõ, ăn hỏi và rước dâu; dân tộc ít người có tục bắt vợ.
- Lễ Tết lớn nhất của người Kinh, người Hoa là Tết Nguyên Đán bắt đầu từ mùng một tháng giêng theo Âm lịch
- Lễ Tết cơm mới của người Ê Đê (Đắk Lắk) diễn ra vào tháng 10 Dương lịch.