Phải nói, đây là một sáng tạo đặc sắc của Xuân Diệu về ngôn từ và phép đảo ngữ độc đáo: chiều mộng, nhánh duyên, đổ trời xanh ngọc (thay vì viết: trời đổ ngọc xanh). Biết bao thi nhân tả về bầu trời nhưng cảm nhận sắc xanh ngọc của bầu trời tuôn chảy xuống vòm lá, xuống nhân gian như Xuân Diệu thì chưa ai có cảm nhận tinh tế như thế.
Khổ thơ đầu, chỉ mới là khổ thơ đầu thôi, chỉ là khúc dạo đầu thôi, cũng đã dự báo một hồn thơ đầy ắp cái tình tứ cho cả bài thơ. Tất cả những hình ảnh, âm thanh, màu sắc ngọt ngào trong buổi chiều thu như mộng ấy, phải chăng là duyên cớ để tác giả viết nên tựa đề “Thơ duyên” độc đáo và khó hiểu này?
“Thơ duyên” là thơ viết để làm duyên, hay duyên cớ để viết nên bài thơ? Vâng! Đấy có thể là viết để làm duyên và cũng có thể là duyên cớ... Thế nhưng, hiểu theo cách thứ hai, ta thấy chí lý hơn cả. Huy Cận từng bảo rằng: “Những người yêu nhau thường hay ra giữa thiên nhiên... đó là một quy luật - vì chỉ có kích thước của vũ trụ họa chăng mới đo được cái không bờ bến của xúc động tình yêu”.
Chiều kích của vũ trụ, nếu cao rộng ở không gian, tở mở ở âm thanh trong khổ thơ đầu, thì nó trở nên gần gũi, thu lại, thân thiết và ngả ngớn mời mọc ở khổ thơ thứ hai:
Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều
Con đường chợt như “đồng lõa” với những rung động của trái tim chàng trai đang yêu, đang muốn được yêu. Con đường “nhỏ nhỏ” như ôm trọn những cơn gió thu ngả ngớn; cành hoang “là lả” như mời mọc, giao tình với nắng chiều, là một tứ thơ quá đẹp làm mê hoặc chúng ta bởi cái cảm giác rợn ngợp trước thiên nhiên và lòng người đang như say. Con đường với gió thành một cặp. Cành hoang và nắng lại thành một cặp khác. Tất cả như trĩu xuống mềm mại, êm ái lúc “nắng trở chiều”. Điệu ấy vừa tả sắc nắng mang trong nó cái bóng di chuyển của thời gian, vừa thể hiện được cái tình tứ mà đoan trang của nắng chiều. Tất cả cứ quyến luyến, quất quýt nhau khiến cho con đường hiện ra đúng là con đường để ngỏ lời cho những bước chân đôi lứa. Cũng chính vào khung cảnh ấy, thời điểm ấy, sự giao hoà tuyệt đẹp của cảnh và tình, giữa thiên nhiên và hồn người đã trở thành duyên cớ khiến thi nhân phải tự thú lòng mình:
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn,
Lần đầu rung động nỗi thương yêu.
Chỉ ngần ấy thôi mà thành duyên thành cớ, thành thơ, thành nhạc, thành âu yếm của “cặp chim chuyền”, thành gió “xiêu xiêu” quyến rũ, gợi tình và phía trước kia, bóng dáng giai nhân đang lả lướt. Ở đây không có cầu, không có nước, không có liễu như trong Đoạn trường tân thanh của thi hào Nguyễn Du:
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
Thế nhưng, bóng chiều ở đây, và bóng dáng người con gái trong đoạn thơ kể tiếp đã gợi lên vẻ thướt tha, kiều diễm không kém người đẹp trong thơ xưa. Vậy mà, người đẹp lại có vẻ như lạnh lùng làm sao ấy! Chàng trai lại ngây thơ và e dè lắm, và một khoảng cách nào đó đang tồn tại giữa hai người?
Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững đững chẳng theo gần
Vấn đề ở chỗ, hai người đã yêu nhau và đưa nhau đi tìm khung cảnh nên thơ để tự tình, hay là ngẫu nhiên gặp nhau, chàng trai chợt xôn xao trong lòng và cô gái chẳng hề hay biết, chẳng có một chút quan tâm? Bởi, em thì “điềm nhiên”, anh thì “lững đững”, em thì “không vướng chân”, anh thì “chẳng theo gần”. Tất cả những động thái ấy, tạo nên sự ngập ngừng đáng yêu của nhân vật trữ tình. Tình cảm thì trong sáng, nhưng lại quá xôn xao trong lòng chàng trai. Cách xưng hô cũng thay đổi thật nhanh chóng. Từ quan hệ nhân xưng của buổi sơ ngộ: “ta - bạn”, đến quan hệ nhân xưng: “anh – em”. Ấy là chàng trai tự thay đổi cách gọi đấy thôi, sự thật của cuộc gặp gỡ này lại là:
Vô tâm nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần
Lấy “cặp vần” trong thơ ca để so sánh như “anh” với “em” thì quả là một sáng tạo trong ngôn từ nghệ thuật. Đồng thời, đó cũng là một thú nhận có lý lẽ về một sự thật: sự thật ấy, chính là sự gián cách giữa anh và em, như sự gián cách giữa hai vần với nhau. Một sự so sánh thật tài tình. Bởi, cặp vần là yếu tố tạo sự thành công cho bài thơ, tạo nhạc điệu cho bài thơ. Cũng vậy, có anh, có em trong buổi chiều thơ mộng lại làm tăng thêm vẻ nên thơ, êm dịu cho buổi chiều, tạo thêm nét tình tứ đáng yêu trong lòng. Còn khoảng cách giữa “cặp vần tình yêu” là còn sự khao khát hướng tới. Tứ thơ bay bổng và hồn thơ thơ ngây đến quá đỗi “vô tâm”! Em vô tâm trước tình yêu của anh, hay là em hồn nhiên quá, đến nỗi không nhận những xao xuyến trong trong anh?
Xuân Diệu là thế, là thi nhân chân thành với tình yêu, là “tín đồ ngoan đạo” của tình yêu. Thế nhưng, ngay từ buổi ban đầu, chàng trai đáng yêu ấy đã lận đận trong biển tình. Thiên nhiên của những cặp đôi đã nhường chỗ cho thiên nhiên của sự li tán, chia lìa:
Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân
Chim nghe trời rộng giang thêm cánh
Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần
Ngôn ngữ thơ ở đây có sự chuyển hóa một cách khéo léo, khiến hồn thơ như “trở dạ”, của nỗi đau chen lẫn niềm hạnh phúc vì yêu.
Cái đau ở đây cũng chỉ là nỗi đau phảng phất của chút tình đơn phương. Nỗi đau trong Thơ duyên không buồn hiu hắt, chán chường và chua chát sợ hãi sự cô đơn – sự phôi pha của vạn vật. Ở đây “mây biếc” đang là hoá thân của cô gái, chàng trai cũng hóa và thân “con cờ”. Thời gian thay đổi bất ngờ. Mới từ buổi chiều đầy mộng, trời thu tươi xanh, gợi cảm; hình ảnh thân mật “cặp chim chuyền”, chuyển sang mạch thơ gấp gáp, chuyên chở buổi chiều “xanh ngọc” sang “chiều thưa", khiến hoa trở lạnh trong sương, còn mây biếc kia như mang đi tất cả giấc mơ “yêu” của chàng trai si tình. Cái tôi trữ tình xuất hiện trong trạng thái hoang mang, như cánh cò “phân vân”, ngơ ngẩn vậy! Vì sao lại có nỗi băn khoăn ấy? Vì sao cuộc đời đẹp là thế, đáng yêu là thế mà thi nhân lại buồn? Phải chăng vì sống trong một xã hội hỗn loạn, nước mất nhà tan nhưng con người chưa đủ dũng khí để chống lại thực dân, nỗi u hoài mà tìm đến thiên nhiên để giãi bày tâm sự? Phải chăng đấy là cách nghĩ, cách cảm, cách thể hiện rất riêng và rất mới mẻ của Xuân Diệu?