Nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh từng khẳng định:
“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”
Còn với Chế Lan Viên, là sự sâu lắng và tinh tế khi cất lên lời thơ:
“Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn”
Từ đó ta dễ dàng thấy được tiếng vang của “Truyện Kiều” đã đi xa đến hàng nghìn năm. Nhắc đến “Truyện Kiều” đã không thể nào quên người đã khai sinh ra “di sản văn hóa” đó – Nguyễn Du. Ông nổi tiếng với danh xưng đại thi hào dân tộc và còn là danh nhân văn hóa thế giới. Đất nước văn hiến đã sinh ra Nguyễn Du cùng “Truyện Kiều” và “Truyện Kiều” đã làm cho đất nước thêm văn hiến. Truyện thơ với 3254 câu mang sức cuốn hút diệu kì, vương vấn mãi tâm hồn ta, mang đến cho ta niềm cảm thương sâu sắc với “tấm gương oan khổ” Thúy Kiều, đem lại cho ta những khoái cảm thẩm mĩ đặc biệt trước những lời thơ như hoa, như gấm. Trong đó đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã gây ấn tượng riêng trong lòng người đọc với tiếng lòng buồn man mác của nàng Kiều. Minh chứng rõ nét nhất cho điều đó chính là tám câu thơ cuối đầy nỗi sầu muộn:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu ?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Thoạt nhìn những vần thơ, ta có thể thấy tương quan không gian như thể ở hai nơi chốn: thiên nhiên (ngoài kia) và ở trong lầu Ngưng bích hiện ra như một người đang ở đây, ở trong này mà khắc khoải ngóng trông hoài vọng về một nơi xa xăm, về ngoài kia. Đó là hình ảnh một cá thể nhỏ nhoi tha thiết với đời mà đang chới với, tuyệt vọng bên vùng trời quên lãng. Bởi thế mà Mộng Liên Tưởng đã viết: “Lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc cũng phải thấm thìa, ngậm ngùi, day dứt đến đứt ruột”. Quả thật là như vậy, để diễn tả tâm trạng cô đơn buồn tủi, tuyệt vọng của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc ”tình trong cảnh ấy cảnh trong tình này” là thực cảnh cũng là tâm cảnh. Mỗi cảnh gợi ra một nỗi buồn khác nhau, để rồi tình buồn tác động đến cảnh buồn khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn càng trở nên ghê gớm mãnh liệt. Đúng như Nguyễn Du từng viết:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Những dòng thơ sinh động, dưới cái tài miêu tả nội dung nhân vật của tác giả làm hiện lên một bức tranh vừa gợi tả cảnh thiên nhiên vừa gợi nỗi lòng của nàng Kiều. Một mình bơ vơ, trơ trọi giữa không gian mênh mông, bỗng trào lên da diết nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương được hoàn chỉnh bằng những dòng thơ lục bát tinh tế, sắc sảo đã bao năm tháng mà vẫn làm say đắm lòng người qua gồm bốn cặp câu lục bát cũng là bốn cảnh và cặp câu được liên kết nhờ điệp ngữ "buồn trông". Bởi thế, "Buồn trông" trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng như điệp khúc của tâm trạng. Bằng một gam màu nhạt và lạnh, Nguyễn Du đã vẽ lên một bộ tứ bình tâm trạng hết sức độc đáo và xúc động.
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng, cánh buồm xa xa ?”
Không gian xa rộng, quạnh hiu nơi cửa bể như càng làm nổi rõ hơn thân phận nhỏ bé, cô đơn của Kiều. Cửa bể là nơi biển khơi mênh mang, rợn ngợp vô cùng. Không gian ấy cộng hưởng cùng thời gian “chiều hôm” - thời khắc gợi nhớ, gợi buồn - khiến như thấm sâu hơn vào tâm hồn người con gái nơi xứ lạ nỗi niềm xót xa đang rơi vào trạng thái lạc loài không có điểm bám víu. Giữa khung cảnh ấy, trái tim cô đơn, tâm hồn trống vắng cần lắm một hơi ấm, một sự hiện diện của sự sống:
“Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?”
Câu hỏi tu từ cất lên từ chủ từ trữ tình không cầu mong một tiếng đáp lời, mà chỉ đơn giản là để bộc lộ nỗi buồn như trải dài đến vô tận. Cảnh chiều hôm giữa không gian bao la ấy đột nhiên lại có một cánh buồm lẻ loi, lạc lõng lúc ẩn lúc hiện ”thấp thoáng” đã gợi lên cho ta sự lưu lạc tha hương cùng với nỗi buồn da diết về cha mẹ của đứa con nơi ”đất khách quê người”. Cửa bể chiều hôm vốn mênh mông hoang vắng, cánh buồm thấp thoáng đi về chốn xa xôi, bao giờ cũng buồn, càng gợi buồn hơn trong cảnh hiu quạnh này. Giữa sự hiện hữu mờ mờ, như có như không, được diễn tả qua hai từ láy “thấp thoáng”, “xa xa” của cánh buồm không làm cho khung cảnh thêm thân mật, ấm áp mà càng gợi sầu, gợi cảm giác cô liêu cho con người. Câu thơ từ từ ngân lên như một niềm khao khát, hoài bão, ngóng trông, nhưng hiện tại, nơi gác bể chân trời, Kiều vẫn lẻ loi một mình đối đầu với sóng gió cuộc đời, rồi thân phận kiều sẽ lênh đênh, trôi dạt về phương trời nào? Không tìm thấy sự sẻ chia từ nơi cửa biển xa xăm, Kiều hướng tầm mắt về “ngọn nước” gần mình hơn:
“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu ?”